Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 19(1):374. DOI
Lượt xem: 148 Lượt tải PDF: 1
Nguyễn Thị Hải Yến*, Nguyễn Thanh Bảo**, Cao Minh Nga**
Đặt vấn đề: Nhiễm HBV vẫn luôn là một vấn đề sức khỏe toàn cầu. Việt Nam là một trong những nước có tỉ lệ nhiễm HBV cao (10-20%). Tại vùng đồng bằng Sông Cửu Long nói chung và TP Cần Thơ nói riêng, chưa có nghiên cứu nào về kiểu gen của HBV trên đối tượng người nhiễm HBV mạn tính chưa điều trị.
Mục tiêu:
Xác định và mô tả sự phân bố kiểu gen của HBV trên người nhiễm HBV mạn tính chưa điều trị tại TP Cần Thơ.
Phương pháp: Nghiên cứu tiền cứu, mô tả cắt ngang. Từ tháng 1/2013 đến tháng 9/2014 tiến hành thu thập mẫu huyết thanh từ bệnh nhân nhiễm HBV mạn tính chưa điều trị tại một số phòng khám chuyên khoa gan mật, tiêu hóa tại TP Cần Thơ. Thực hiện xét nghiệm HBeAg. Tiến hành định lượng HBV DNA bằng kỹ thuật Realtime PCR tại phòng xét nghiệm vi sinh Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, chọn ra các mẫu huyết thanh có kết quả định định lượng HBV DNA
> 103 copies/ml tiến hành giải trình tự xác định kiểu gen tại viện Pasteur TP.
Hồ Chí Minh.
Kết quả: Có 473 mẫu huyết thanh có tải lượng HBV DNA >
103 copies/ml được giải trình tự xác định kiểu gen. Có 2 kiểu gen được phát hiện là B và C với tỉ lệ lần lượt là 73,4 và
26,6%. Tỉ lệ mẫu huyết thanh có HBeAg (+) là 57,3%. Tải lượng HBV DNA
trong huyết thanh ≥ 105 copies/ml chiếm tỉ lệ 68,7%. Không ghi nhân mối liên quan giữa kiểu gen với các yếu tố giới tính, tải lượng HBV DNA
trong huyết thanh và tình trạng HBeAg.
Kết luận: Trên đối tượng người nhiễm HBV mạn tính chưa điều trị tại TP cần Thơ, có 2 kiểu gen được ghi nhận là B (73,4%) và C (26,6%). Không ghi nhân mối liên quan giữa kiểu gen với các yếu tố giới tính, tải lượng HBV DNA
trong huyết thanh và tình trạng HBeAg.
Từ khóa:
kiểu gen, virus viêm gan B, nhiễm HBV mạn tính, bệnh nhân chưa điều trị
Background: Hepatitis B virus infection is an important
problem of health worldwide. VietNam is one of coutries with hight prevalence
of HBV infection (10 - 20%). There has been no study about HBV genotype in
Mekong delta area and CanTho city.
Objectives: Identify and describe the distribution of HBV
genotype in chronic hepatitis B virus infected patients in CanTho city.
Methods: Retrospective, cross-sectional description
method. Sera of chronic hepatitis B virus infected patients were collected at
some hepatobiliary and gastrointestinal clinics in CanTho city from January
2013 to December 2014. HBeAg tests were done. HBV DNA quantitating were taken
by Realtime PCR method in University of Medicine and Pharmacy in Ho Chi Minh
city. Samples with over 103 HBV DNA copies/ml sera were identified
genotypes by sequencing at Pasteur institute in Ho Chi Minh city.
Results: 473 samples with over 103 HBV DNA
copies/ml sera of chronic hepatitis B virus infected patients were available
for genotype identifying. The genotypes of HBV were B (73.4%) and C (26.6%).
The ratio of HBeAg positive was 57.3%. There were 68.7% samples with over 104
HBV DNA copies/ml sera. No relationship between HBV genotypes and gender, HBV
DNA copies quantity in sera or HBeAg status was seen.
Conclusion: The genotypes of HBV in chronic hepatitis B
virus infected patients were B (73.4%) and C (26.6%). There was no significant
difference in the distribution of HBV genotypes in groups of gender, HBV DNA
copies quantity in sera and HBeAg status.
Key words: genotype, Hepatitis B (HBV), chronic HBV
infection, treatment naïve patient.