HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner

GIÁ TRỊ CỦA NEUTROPHIL GELATINASE ASSOCIATED LIPOCALIN HUYẾT TƯƠNG TRONG DỰ ĐOÁN TỔN THƯƠNG THẬN CẤP Ở BỆNH NHÂN HỒI SỨC SỬ DỤNG KHÁNG SINH ĐỘC THẬN

PLASMA NEUTROPHIL GELATINASE ASSOCIATED LIPOCALIN PREDICTS ACUTE KIDNEY INJURY IN CRITICALLY ILL PATIENTS RECEIVING NEPHROTOXIC ANTIBIOTICS: A PROSPECTIVE STUDY

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 19(1):303. DOI

Lượt xem: 139 Lượt tải PDF: 2

Tác giả

Đặng Vạn Phước*, Phan Thị Xuân**

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Chẩn đoán sớm tổn thương thận cấp (TTTC) trên lâm sàng vẫn còn là một thách thức, vì creatinin huyết thanh là tiêu chuẩn vàng nhưng không giúp chẩn đoán sớm, creatinin huyết thanh chỉ tăng khi độ lọc cầu thận đã giảm nặng. Vì thế nhiều dấu ấn sinh học đang được nghiên cứu để chẩn đoán sớm TTTC, trong đó neutrophil gelatinase associated lipocalin (NGAL) huyết tương được xem là dấu ấn sinh học đầy hứa hẹn vì nồng độ gia tăng rất sớm chỉ vài giờ sau khi thận tiếp xúc với tác nhân gây tổn thương thận và có mối tương quan với độ nặng của tổn thương thận. Các nghiên cứu về NGAL cho thấy NGAL có thể dự đoán TTTC trước 2 đến 3 ngày so với creatinin máu.

Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát giá trị của nồng độ NGAL huyết tương trong dự đoán TTTC xảy ra trong tuần đầu sử dụng kháng sinh độc thận.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả loạt ca, thực hiện tại khoa Hồi Sức Cấp Cứu (HSCC) bệnh viện Chợ Rẫy, từ tháng 9/2013 đến hết tháng 12/2013, trên các bệnh nhân sử dụng kháng sinh colistin hoặc amikacin đường tĩnh mạch, không có suy thận mạn và không bị TTTC vào thời điểm bắt đầu sử dụng thuốc. Các bệnh nhân này được đo nồng độ NGAL huyết tương 4 ngày liên tiếp, chẩn đoán TTTC bằng tiêu chuẩn AKIN.

Kết quả: Có 48 bệnh nhân được chọn vào nghiên cứu, bao gồm 9 bệnh nhân sử dụng amikacin (18,8%), 36 bệnh nhân sử dụng colistin (75,0%), và 3 bệnh nhân sử dụng phối hợp colistin và amikacin (6,3%). 25 bệnh nhân (52,1%) xuất hiện TTTC trong quá trình điều trị 2 loại thuốc kháng sinh trên, trong đó 17 bệnh nhân xuất hiện TTTC vào tuần đầu điều trị và 8 bệnh nhân xuất hiện TTTC vào tuần thứ 2 của điều trị. Không có sự khác biệt về nồng độ NGAL huyết tương vào ngày 1 giữa các nhóm bệnh nhân không TTTC, xuất hiện TTTC vào tuần 1 và xuất hiện TTTC vào tuần 2 của điều trị. Sự khác biệt nồng độ NGAL bắt đầu vào ngày 2 của điều trị, diện tích dưới đường cong ROC của nồng độ NGAL ngày 2 trong dự đoán xuất hiện TTTC tuần 1 tại điểm cắt 150 ng/mL là 0,873 (95%CI: 0,745 - 0,951; P < 0,05), vào ngày 3 tại điểm cắt 240 ng/mL là 0,919 (95% CI: 0,802 - 0,977; P < 0,05), vào ngày 4 tại điểm cắt 242 ng/mL là 0,887 (95%CI: 0,762-0,960; P < 0,05).

Kết luận: NGAL huyết tương có giá trị dự đoán tốt TTTC ở bệnh nhân hồi sức sử dụng kháng sinh độc thận.

Từ khoá: NGAL huyết tương, tổn thương thận cấp.

Abstract

Background: Early diagnosis of acute kidney injury (AKI) is still a challenge because serum creatinine is gold standard for diagnosis of AKI but it can not be used for early detection of AKI. Serum creatinine increases when glomerular filtration rate decreases severely. Therefore many novel biomarkers have been studied for early diagnosis of AKI, among them plasma NGAL is a promising biomarker. Plasma NGAL increases just only few hours after kidneys were injured and has a correlation with the severity of kidney injury. Studies on NGAL showed that plasma NGAL could predict AKI as early as two or three days compared to serum creatinine.

Objectives: Estimate the diagnostic accuracy of plasma NGAL in prediction of AKI that occurs in the first week in critically ill patients receiving nephrotoxic antibiotics.

Patients and method: A case series report, performed at ICU Cho Ray hospital from september 2013 through december 2013, enrolled patients receiving intravenous colistin or amikacin without chronic kidney failure and AKI at the beginning of colistin or amikacin use. Plasma NGAL was measured every day from day 1 to day 4 of colistin or amikacin use, the primary outcome was AKI defined as AKIN criteria.

Results: Of 48 patients, including 9 patients were used amikacin (18.8%), 36 patients were used colistin (75.0%), and 3 patients were used both colistin and amikacin (6.3%); 25 patients (52.1%) had developed AKI, 17 patients acquired at the first week and 8 patients acquired at the second week. There were no difference of plasma NGAL on day 1 among 3 groups (non-AKI group, AKI at the first week group and AKI at the second week group). Area under ROC of plasma NGAL on day 2 at cutoff 150ng/mL was 0.873 (95%CI: 0.745 - 0.951; P < 0.05), on day 3 at cutoff 240 ng/mL was 0.919 (95% CI: 0.802 - 0.977; P < 0.05), on day 4 at cutoff 242 ng/mL was 0.887 (95%CI: 0.762-0.960; P < 0.05).

Conclusion: Plasma NGAL could be a good diagnostic marker for prediction of AKI in critically ill patients receiving nephrotoxic antibiotics.

Keywords: Plasma NGAL, acute kidney injury.