Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 19(1):240. DOI
Lượt xem: 192 Lượt tải PDF: 0
Đỗ Minh Chi*, Cao Phi Phong**
Đặt vấn đề: Xác định được các yếu tố tiên lượng kết cục sau đột
quỵ có thể giúp phòng tránh được kết cục xấu bằng cách kiểm soát tốt các yếu tố
tiên lượng này.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi tiến hành nghiên cứu các yếu tố nguy cơ
trước đột quỵ, đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của đột quỵ, điều trị và kết cục
lúc xuất viện của 236 trường hợp bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não có rung nhĩ. Kết
cục 3 tháng đánh giá được ở 213 bệnh nhân. Các yếu tố tiên lượng kết cục
xấu thời điểm 3 tháng được xác định nhờ phương pháp
phân tích thống kê
đơn biến và hồi quy đa biến logistic.
Kết quả: Đa số các bệnh nhân ≥ 65 tuổi lúc khởi phát nhồi
máu não, nữ chiếm ưu thế hơn nam (53,4% so với 46,6%). Bệnh nhân có nguy cơ nhồi
máu não thấp thật sự chỉ chiếm 2,1%, còn lại đa số là bệnh nhân có nguy cơ cao
(59,7% đến 81,4% tùy đánh giá theo CHADS2 hay CHA2DS2-VASc), thế nhưng chỉ có 40,4% đang dùng kháng
đông uống, và tỉ lệ có INR (International Normalised
Ratio) 2 – 3 lúc khởi phát nhồi máu não còn thấp (9,7%). Tuổi ≥
65, giới nữ, mạch nhanh, suy giảm ý thức lúc nhập viện, NIHSS
(National Institutes of Health Stroke Scale) ≥ 11, rung nhĩ
có bệnh van tim, nhồi máu não diện rộng, có tắc mạch
lớn, có chuyển dạng xuất huyết, viêm phổi là các yếu tố có liên quan với kết cục
3 tháng khi phân tích đơn biến. Tuy nhiên, sau khi đưa vào phân tích hồi quy logistic, chỉ còn yếu tố giới nữ, NIHSS
lúc nhập viện ≥ 11 và viêm phổi có giá trị tiên lượng độc lập kết cục xấu 3
tháng.
Kết luận: Có thể dùng 1 số yếu tố lâm sàng như giới nữ,
NIHSS ≥ 11 và biến chứng viêm phổi để tiên
lượng kết cục xấu 3 tháng sau nhồi máu não ở bệnh nhân rung nhĩ.
Từ khóa: yếu tố tiên lượng, kết cục, nhồi máu não, rung
nhĩ.
Background: Awareness of the predictors of poor outcome after
stroke can help us to prevent poor outcome.
Methods: Risk factors, clinical features, therapy and
3-month outcome of ischemic stroke in 236 patients with atrial fibrillation
were studied. Independent predictors of 3-month outcome were determined by
using univariable and binary logistic regression analyses.
Results: Most of the patients were over 65 and female
outnumbered male (53.4% vs. 46.6%). True low risk patients were 2.1% while most
of the others are high risk patients (59.7% or 81.4% according to CHADS2 or
CHA2DS2-VASc). 40.4% of all patients were using oral anticoagulants before
stroke onset and only 9.7% of all patients using OACs got target INR. Age over
65, female, high heart rate, disorder of consciousness and NIHSS ≥
11 on admission, valvular atrial fibrillation, large infarction,
occlusion of major arteries, hemorrhagic infarctions and pneumonia were related
with 3-month outcome in univariable analysis. However, after binary logistic
regression analysis, only female, NIHSS ≥ 11 on admission and pneumonia are
independent predictors of poor outcome.
Conclusion: We can use female, NIHSS ≥ 11 on admission and pneumonia
as predictors of poor outcome in stroke patients with atrial fibrillation.
Key words: predictors, poor outcome, ischemic stroke, atrial
fibrillation.