Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 19(1):207. DOI
Lượt xem: 164 Lượt tải PDF: 1
Trần Quang Tuyến*, Lê Văn Tuấn**
Đặt vấn đề: Xác định tỉ lệ phóng điện dạng động
kinh của điện não đồ có vai trò quan trọng trong chẩn đoán. Tỉ lệ phóng điện dạng
động kinh có thể thay đổi theo chu kỳ ngày đêm đêm trên bệnh nhân động kinh.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tại
Bệnh viện Chuyên Khoa Ngoại Thần Kinh Quốc Tế, chúng tôi tiến hành 2 bản ghi điện
não (EEG) trên 52 bệnh nhân động kinh đang hoặc chưa điều trị từ tháng 10/2013 đến 4/2014, bản ghi thứ
nhất thực hiện vào ban ngày trong khoảng thời gian khoảng 15-20 phút, bản ghi
thứ hai thực hiện vào ban đêm với khoảng thời gian từ 7-10 giờ tùy vào sinh hoạt
và giấc ngủ của bệnh nhân.
Kết quả: Trên EEG ban ngày, tỉ lệ bản ghi
xuất hiện phóng điện dạng động kinh là 32,7%, trong đó phóng điện dạng động
kinh vùng thái dương chiếm 11,5%, vùng trán đơn độc chiếm 3,9%, vùng trán và
các vùng chung quanh chiếm 13,5%. Trên EEG ban đêm tỉ lệ bản ghi xuất hiện
phóng điện dạng động kinh là 69,2%, trong đó phóng điện dạng động kinh vùng
thái dương chiếm 23,1%, vùng trán đơn độc chiếm 21,2%, vùng trán và các vùng
chung quanh chiếm 34,6%. Phân tích thống kê bằng phép kiểm Chi bình phương, EEG
ban đêm có tỉ lệ phóng điện dạng động kinh cao gấp 1,84 lần so với EEG ban
ngày.
Kết luận: EEG ban đêm là kĩ thuật có giá
trị cao trong khảo sát phóng điện dạng động kinh trên bệnh nhân động kinh.
Từ khóa: điện não đồ, phóng điện dạng động
kinh.
Objectives: To determine and compare the frequency of epileptiform discharges (Eds) between day-time electroencephalogram (EEG) and
night-time EEG among
epileptic patients.
Backgroud: Electroencephalogram is one of the
most important technique in supporting diagnostic epilepsy. However, the
sensitivity of day-time EEG is limited. It can be increased by prolonging the duration of
EEG. On the other hand, the impaction of sleep also increases the
frequency of EDs.
For these reasons,
we performed EEG in night-time period with many hours to evaluate epileptic
patients.
Methods: This was a case series study of 52
epileptic patients at
International Neurosurgery Hospital from Oct 2013 to Apr 2014. Two EEG recordings of every patient in which the
first EEG was day-time EEG in 15-20 minutes and the second one was
night-time EEG in 7-10 hours.
Results: On day-time EEG, the frequency
of EDs was 32.7%;
EDs from temporal regions, frontal regions, total frontal and related regions were 11.5%, 3.9% and 13.5%, respectively. On
night-time EEG, the frequency
of EDs was 69.2%;
EDs from temporal regions, frontal regions, total frontal and related regions were 23.1%, 21.2% and 34.6%, respectively. Night-time EEG, as compared with
day-time EEG, was associated with higher frequency of EDs (RR = 1.84).
Conclusion: Prolonged night-time EEG is an useful technique in determining
epileptiform discharges in epileptic patients.
Key
words:
electroencephalogram, epileptiform discharges.