Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 19(1):114. DOI
Lượt xem: 231 Lượt tải PDF: 1
Quách Trọng Đức*, Nguyễn Trường Kỳ*
Mục tiêu: Nghiên cứu đặc điểm phân bố theo tuổi, giới và các
đặc điểm nội soi – mô bệnh học của ung thư đại trực tràng (UTĐTT).
Đối tượng và phương pháp:
Mô tả hàng loạt ca trên các trường
hợp UTĐTT được chẩn đoán tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh trong thời
gian từ 01/2009 đến 01/2013.
Kết quả: Có 1.033 bệnh nhân trong nghiên cứu với tuổi trung
bình là 58,6 ± 13,7 (nhỏ nhất 16, lớn nhất 94) và tỉ lệ nam:nữ là 1:1. Tỉ lệ bệnh ở độ tuổi < 50 là 24,1%. Tỉ lệ bệnh
ở tuổi < 40 là 11,7%. Không có sự khác biệt về tuổi mắc bệnh giữa nam và nữ
(58,1 ± 13,6 so với 59,2 ± 13,9; p = 0,2). 71,9%
tổn thương ở vùng trực tràng và đại tràng chậu hông. 95% trường hợp UTĐTT được
phát hiện khi đã có tổn thương tiến triển không thể điều trị lành bằng phương pháp
nội soi can thiệp. Tổn thương sùi hoặc sùi loét là dạng đại thể thường gặp nhất
chiếm tỉ lệ 90%, trong khi dạng thâm nhiễm vốn dễ bị bỏ sót chiếm tỉ lệ 4,5%.
Không có sự khác biệt giữa vị trí phân bố và dạng đại thể trên nội soi giữa các
nhóm tuổi; tuy nhiên ung thư biệt hoá kém thường gặp hơn ở nhóm bệnh nhân <
50 tuổi so với nhóm ≥ 50 tuổi (14,9% so với 8,9%, p = 0,007).
Kết luận: Đa số UTĐTT được chẩn đoán ở giai đoạn tiến triển
xa không thể chữa lành qua nội soi với một tỉ lệ đáng kể được phát hiện ở độ tuổi
< 50. Do đó, xây dựng một chương trình tầm soát bệnh ở độ lứa tuổi sớm hơn
là cần thiết.
Từ khóa: Ung thư đại trực tràng.
Aims: To assess the disease distribution according to
age, sex; and to describe the endoscopic and pathologic characteristics of
colorectal cancers.
Patients and Methods: This is a case series on patients with colorectal
cancer diagnosed at the University Medical Center at Hochiminh City from
January 2009 to Januray 2013.
Results: There were 1033 patients in this study with the
mean age of 58.6 ± 13.7 and the
male-to-female ration of 1:1. 24.1% of patients were under 50 and 11.7% were
under 40 years of age. There was no significant difference between the mean age
of both sexes (58.1 ± 13.6 in male vs 59.2 ± 13.9
in female; p = 0.2). 71.9% of lesions located at
the rectal – sigmoid colon. 95% of lesions had already been so advanced that
they could not be cured with endoscopic treatment. The most common endoscopic
growth forms were annular tumour with stenosis or circular ulcerated tumour
(90%). The infiltrative form, which was very easy to be missed, was found in
4.5%. There were no difference in locations and endoscopic growth forms of
cancers between the early-onset (< 50 years of age) and the late-onset (≥ 50
years of age) subgroups. However, poor-differentiated tumour was more common in
early-onset subgroup compared with the late-onset subgroup (14.9% so với 8.9%, p = 0.007).
Conclusion: Most of colorectal cancers have been diagnosed in
advanced stage which endoscopic treatment was incurable. In addition, a
significant proportion of patients were under 50 years of age. Therefore, a
screening program which starts at a younger age is required.
Key words: Colorectal cancer.