Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 19(1):42. DOI
Lượt xem: 124 Lượt tải PDF: 0
Nguyễn Thế Quyền, Nguyễn Văn Trí**
Đặt vấn đề: Mặc dù biến cố đột quỵ xảy ra trên bệnh nhân
(BN)rung nhĩ (RN) ngày càng tăng nhưng có rất ít số liệu về việc dự phòng đột
quỵ trên nhóm đối tượng này. Vài nghiên cứu gần đây tại Thành phố Hồ Chí Minh
trên nhóm RN không do bệnh van tim (BVT) cho thấy trên những đối tượng có chỉ định
dự phòng, tỉ lệ sử dụng thuốc kháng đông uống là rất thấp.
Mục tiêu:Nhằm khảo sát thực trạng sử dụng thuốc chống huyết
khối trên cả 2 nhóm RNkhông do BVT và do BVT đã có những thay đổi như thế nào
so với trước đây cũng như đánh giá mức độ thực hiện dự phòng đột quỵ đúng theo
khuyến cáo hiện hành trên BNRN của Thầy thuốc hiện nay.
Phương pháp: Cắt ngang, tiến cứu, chúng tôi thu thập liên tục
tất cả BNRN tại 3 khoa điều trị gồm khoa Nội Tim Mạch, Nội Hô Hấp và Nội Tiết –
Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 10/2013 đến hết tháng 05/2014.
Kết quả: Chúng tôi ghi nhận có 258/390BNRN không do BVT
(66,2%). Trong nhóm RN không do BVT, điểm CHA2DS2-VASc
trung bình là 3,3 ± 1,8 với 81,8% có CHA2DS2-VASc ≥ 2; chỉ42,7%
BN CHA2DS2-VASc ≥ 2 có sử dụng thuốc kháng đông uống; điểm
CHA2DS2-VASc càng cao, BN càng ít được sử dụng thuốc
kháng đông uống hơn thuốc kháng tiểu cầu; điểm HAS-BLED trung bình là 1,4 ±
0,9; chỉ 44% BN có CHA2DS2-VASc ≥ 2 kèm HAS-BLED ≤ 2 được
sử dụng thuốc kháng đông uống. Trong nhóm RN do BVT, 93,9% BN có sử dụng thuốc
kháng vitamin K; điểm HAS-BLED trung bình là 1,0 ± 0,9; điểm HAS-BLED càng cao,
càng ít BNđược sử dụng thuốc kháng vitamin K.
Kết luận: Tỉ lệ sử dụng thuốc kháng đông uống trên nhóm RN
không do BVT đã có cải thiện đáng kể so với trước đây nhưng nhìn chung vẫn còn
rất thấp so với thế giới. Đa số thầy thuốc vẫn chưa thực hiện việc dự phòng đúng với khuyến cáo hiện hành. Hầu hết BNRN do
BVT đều được dự phòng đột quỵ đúng với hướng dẫn của khuyến cáo hiện hành.
Từ khóa: rung nhĩ, đột quỵ, thuốc chống huyết khối.
Background: Limited data of stroke prevention are available
despite the more and more stunningly increasing of this event in atrial
fibrillation (AF) population. Several studies surveying stroke prophylaxis of
non-valvular AF in Ho Chi Minh Cityhave shown the disappointingly low rate of
using oral anticoagulant (OAC).
Objectives: To estimate the change in ‘real life’ use of
antithrombotic agents in both non-valvular and valvular AF compared to that of
in the past, as well as how exactly doctors are adhering to the current
guidelines of stroke prevention.
Design and methods: We conducted a prospective, cross-sectional study
and collected continually all AF patients admitted to Department of Cardiology,
Respiratory and Endocrinology – Cho Ray Hospital from October 2013 to May 2014.
Results: There were 258 of 390 patients with non-valvular
AF (66.2%). In respect of non-valvular AF population, mean CHA2DS2-VASc
score was 3.3 ± 1.8 with 81.8% of patients having CHA2DS2-VASc
≥ 2 and only 42.7% of ‘CHA2DS2-VASc ≥ 2’ patients did use
OAC; the higher the CHA2DS2-VASc score was, the less
patients used oral anticoagulant compared to antiplatelet; mean HAS-BLED score
was 1.4 ± 0.9 and only 44% of patients with CHA2DS2-VASc
≥ 2 plus HAS-BLED ≤ 2 did use OAC. In respect of valvular AF group, 93.9% of
patients used vitamin K antagonist (VKA); mean HAS-BLED score was 1.0 ± 0.9;
the higher the HAS-BLED score was, the less patients used VKA.
Conclusions: The proportion of using OAC in non-valvular AF
population has been improved dramatically compared to that of in the past.
However, in general, the rate of using OAC in this study was alarmingly low
compared to that of other worldwide observational studies. Stroke prevention
task in non-valvular AF patients still has not been adhered closely to the
current guidelines. Almost all valvular AF patients used VKA for stroke
prophylaxis as the current guidelines have recommended.
Key words: atrial fibrillation, stroke, antithrombotic.