Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 18(6):436. DOI
Lượt xem: 140 Lượt tải PDF: 0
Nguyễn Phương Toại*, Đặng Văn Chính**, Amy Vittor***, Nguyễn Ngọc Huy****
Mục tiêu: Xác định hành vi của nguời dân và yếu tố thời tiết có liên quan đến chỉ số côn trùng SXH tại các khu vực có mức độ lây lan khác nhau ở Cần Thơ, từ 06/2012-06/2013.
Phương pháp: Nghiên cứu dọc, từ 06/2012-06/2013. Khảo sát 600 hộ gia đình hàng tháng tại 06 xã, phường thuộc 02 quận, thành phố Cần Thơ. Sử dụng bộ câu hỏi và bảng kiểm để đánh giá hành vi nguời dân trong cộng đồng có liên quan đến việc phòng tránh bệnh SXH. Thu thập các chỉ số lăng quăng/nhộng và phân tích ở phòng thí nghiệm côn trùng. Hàng tháng số liệu nhập viện do SXH và chỉ số khí hậu như cũng được thu thập.
Kết quả: Tỷ lệ các vật dụng chứa nước có lăng quăng là 3%. Trong số các vật chứa nước có lăng quăng, lu, khạp, phuy chiếm tỷ lệ cao nhất với 6,8%. Các chỉ số côn trùng vào mùa mưa đều tăng cao so với mùa khô. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa chỉ số tổng vật chứa có lăng quăng ở hộ gia đình (trong nhà, ngoài nhà) và vật chứa có lăng quăng là lu, khạp, phuy theo mùa. Theo khu vực nông thôn và thành thị, mặc dù trung bình dụng cụ chứa nước ở thành thị thấp hơn nông thôn nhưng tỷ lệ lu, khạp, phuy chứa lăng quăng cao gấp đôi so với nông thôn, đặc biệt là lu, khạp, phuy trong nhà. Những hộ gia đình không thường xuyên súc rửa dụng cụ chứa nước có tỷ lệ lăng quăng Aedes cao gấp 2,5 lần, treo quần áo không gọn gàng có tỷ lệ lăng quăng Aedes tăng 1,85 lần, tham gia xử lý rác thải bằng dịch vụ công cộng có tỷ lệ có lăng quăng Aedes trong nhà thấp hơn 3,15 so với những hộ gia đình khác. Trong mùa mưa tỷ lệ lăng quăng Aedes tại các hộ nghiên cứu tăng 3,1 lần cao hơn trong mùa khô.
Kết luận: Có sự khác biệt ý nghĩa về các chỉ số lăng quăng giữa 2 mùa trong năm. Các hành vi súc rửa dụng cụ, treo mắc quần áo gọn gàng làm giảm tỷ lệ lăng quăng trong nhà.
Từ khóa: chỉ số côn trùng, sốt xuất huyết
Nguyen
Phuong Toai, Dang Van Chinh, Amy
Vittor, Nguyen Ngoc Huy
* Y Hoc TP. Ho Chi
Minh * Vol. 18 - Supplement of No 6- 2014: 436 – 442
Background: In Viet Nam, there have been a few studies on changes to seasons of Aedes Aegypti entomological indices and their relationship with residents’ behavior.
Objectives: To determine the relationship between Aedes Aegypti entomological indices and residents’ behavior as well as climate factor at high risk and low risk areas in Can Tho from 06/2012 to 06/2013.
Results: In all, 3% of the water containers had larvae. Jars/casks/jugs were accounted for the highest proportion (6.8%) of water containers with larvae. Aedes Aegypti indices were higher in rainy season than in dry season. There was significantlystatistic relationship between seasonal element with total water container which had larva in househods (indoor and outdoor)and water containers which had larva.Compared with rural areas, the average number of water containersin urban areas was lower, but the proportion of jars/casks/jugs (especially indoor containers) with lavae was double. The Aedes Aegypti larval index in the households which didn’t often clean water containers was 2.5 times that in those householdswhich often cleaned water containers. Similarly, the Aedes index in households whereclothes were hung up untidily wasabout double that in householdswhereclothes were hung up tidily. The Aedes index in households using public garbage collection service was about one third of that inhouseholds which didn’t use public garbage collection service. Compared to dry season, the Aedes index in rainy season increased threefold.
Conclusion: There was significant difference in larvae/pupae index between the dry and rainy season. Cleaning water container frequently and hanging clothes tidely reduced larvae/pupae index.