HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner
Nghiên cứu Y học

KHẢO SÁT NGUYÊN NHÂN GÂY SUY THẬN MẠN GIAI ĐOẠN CUỐI VÀ TỶ LỆ NHIỄM SIÊU VI VIÊM GAN B VÀ C Ở BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ TẠI KHOA LỌC MÁU BỆNH VIỆN QUẬN 6

PATTERN OF END STAGE RENAL DISEASE AND SEROPREVALENCE OF HEPATITIS B VIRUS AND HEPATITIS C VIRUS INFECTIONS AMONG CHRONIC HAEMODIALYSIS PATIENTS IN VIETNAM: A SINGLE-CENTRE EXPERIENCE

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 18(6):205. DOI

Lượt xem: 162 Lượt tải PDF: 0

Tác giả

Dương Minh Cường*, Olszyna Dariusz Piotr**, Nguyễn Duy Phong***, Ngô Thanh Điểu****, McLaws Mary-Louise*

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Việc cập nhật những thay đổi về các nguyên nhân gây suy thận mạn tính giai đoạn cuối (STMGĐC) và tỷ lệ hiện mắc siêu vi viêm gan B (HBV) và C (HCV) giúp đưa ra các chiến lược phòng bệnh hợp lí cũng như đánh giá được vai trò các biện pháp chống nhiễm khuẩn đang được áp dụng tại khoa lọc máu. Từ đó, góp phần nâng cao hiệu quả của chương trình phòng bệnh và cải thiện hơn nữa chất lượng điều trị.

Mục tiêu: Xác định các nguyên nhân gây bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối (STMGĐC), tỷ lệ hiện mắc siêu vi viêm gan B và C ở các bệnh nhân người lớn đang điều trị chạy thận nhân tạo định kỳ (CTNT).

Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang từ 10/2012 đến 10/2013. Các bệnh nhân được thực hiện xét nghiệm tầm soát kháng nguyên bề mặt HBV (HBsAg) và kháng nguyên lõi HCV (HCV-coreAg) trong huyết thanh. Thông tin về bản thân, tiền căn và tình trạng bệnh lý hiện tại được thu thập thông qua bảng câu hỏi in sẵn.

Kết quả: Tổng số 141 bệnh nhân tham gia có 53% là nữ giới. Độ tuổi trung bình 55 ± 16 (nhỏ nhất là 19 và lớn nhất là 87 tuổi). 21% bệnh nhân nhỏ hơn 41 tuổi, 42% từ 41 – 60 và 37% lớn hơn 60 tuổi. Ba nguyên nhân gây bệnh hàng đầu là tăng huyết áp (THA) (33%), đái tháo đường týp 2 (ĐTĐ) (32%) và bệnh cầu thận (BCT) (18%). Nguyên nhân gây bệnh có sự khác biệt theo nhóm tuổi và giới tính. 5,7% (8/141) dương tính với HBsAg, 6,4% (9/141) với HCV-coreAg và 0,7% (1/141) dương tính với cả hai loại xét nghiệm.

Kết luận: Để góp phần ngăn ngừa STMGĐC, cần kiểm soát tốt THA, ĐTĐ và BCT; phát hiện sớm và điều trị dự phòng bệnh thận mạn. Để đạt được điều này, cần nâng cao kiến thức người dân về bệnh thận mạn và ý thức về việc thăm khám sức khỏe định kỳ. Ngoài ra, cần chú ý tầm soát triệu chứng sớm của các bệnh trên ở tất cả các chuyên khoa. Bên cạnh đó, nghiên cứu về mức độ tuân thủ qui trình chống nhiễm khuẩn tại các cơ sở CTNT cần được tiến hành nhằm đánh giá toàn diện hiệu quả của các biện pháp dự phòng nhiễm HBV và HCV ở các bệnh nhân CTNT.

Từ khóa: Suy thận mạn; Nhiễm siêu vi viêm gan B và C; điều trị chạy thận nhân tạo

Abstract

PATTERN OF END STAGE RENAL DISEASE AND SEROPREVALENCE OF HEPATITIS B VIRUS AND HEPATITIS C VIRUS INFECTIONS AMONG CHRONIC HAEMODIALYSIS PATIENTS IN VIETNAM: A SINGLE-CENTRE EXPERIENCE

Duong Minh Cuong, Olszyna Dariusz Piotr, Nguyen Duy Phong, Ngo Thanh Dieu,
McLaws Mary-Louise
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 - Supplement of No 6- 2014:: 206 - 211

Background: The updatecause of end stage renail disease (ESRD) andprevalence of hepatitis B virus (HBV) and hepatitis C virus (HCV)helps to establish rational nosocomial preventivestrategiesindialysisdepartment.

Objectives: We aimed to identify the major causes of ESRD and the seroprevalence of hepatitis B virus and hepatitis C virus infections among adult patients undergoing chronic haemodialysis.

Methods: A cross-sectional survey was conducted between October 2012 and October 2013. Study participants were tested for HBV surface antigen (HBsAg) and HCV core antigen (HCV-coreAg). Demographic characteristics and medical histories were collected using a self-reported questionnaire.

Results: All 141 patients attending the heamodialysis unit completed the questionnaire of whom53% were female. Age ranged between 19 and 87 years (mean ± SD; 55 ± 16). Of these, 21% were younger than 41 years, 42% were between 41 and 60 and 37% were older than 60 years. The top three causes of ESRD were hypertension (33%), diabetes mellitus (32%) and glomerulonephritis (18%). The leading cause of ESRD differed by age and gender. Seroprevelence for bloodborne infections identified 5.7% (8/141) were HBsAg+, 6,4% (9/141) were HCV-coreAg+ and 0,7% (1/141) was HBsAg+ and HCV-coreAg+.

Conclusion: Improvement in management of hypertension, diabetes and glomerulonephritis; early detection and better preventive care of chronic kidney disease pivotal to the prevention of ESRD. It is essential that people should improve their perception of periodic medical checkup and ESRD knowledge. In addition, physicians regardless of specialiaty pay much attention to the early signs of those leading diseases causing ESRD. Actual practices of universal precautions among haemodialysis centres should be examined in Vietnam to evaluate the effectiveness of the current viral hepatitis prevention methods.

Key words: Chronic renal failure; HBV and HCV infection; Heamodialysis Patients