HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner
Nghiên cứu Y học

THỰC HÀNH SỬ DỤNG NƯỚC SINH HOẠT, NƯỚC ĂN UỐNG VÀ NHÀ TIÊU HỢP VỆ SINH TẠI HỘ GIA ĐÌNH NÔNG THÔN KHU VỰC PHÍA NAM, NĂM 2012-2013

PRACTICE ON USING DOMESTIC WATER, DRINKING WATER, AND SANITARY LATRINES AT HOUSEHOLDS IN RURAL AREAS IN SOUTHERN VIETNAM, 2012-2013

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 18(6):111. DOI

Lượt xem: 186 Lượt tải PDF: 0

Tác giả

Đặng Ngọc Chánh*, Nguyễn Đỗ Quốc Thống*,Nguyễn Trần Bảo Thanh*

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Các hệ thống và hành vi vệ sinh, nước không an toàn nằm trong nhóm các nguy cơ hàng đầu của gánh nặng bệnh tật toàn cầu được đo lường theo DALYs, và là nhóm nguy cơ cao thứ hai với tỷ lệ 6,3% ở những nước đang phát triển. Tại Việt Nam, tỷ lệ hộ gia đình nông thôn chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh (40%)và tỷ lệ hộ nghèo (15,9%) có một khoảng chênh lệch khá lớn. Lý do gì làm cho những hộ không phải hộ nghèo không sở hữu một nhà tiêu hợp vệ sinh?

Mục tiêu: Mô tả thực hành về sử dụng nước sinh hoạt, nước ăn uống; kiến thức và thực hành sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh của hộ gia đình nông thôn

Phương pháp: Đây là một nghiên cứu cắt ngang mô tả. Với dân số mục tiêu là các hộ gia đình nông thôn tại các xã có triển khai chương trình Mục tiêu Quốc gia Nước Sạch và Vệ sinh Môi trường Nông thôn (MTQG NS & VSMT NT), trong hai năm 2012 và 2013. Dân số chọn mẫu là các hộ gia đình trong phạm vi 1km quanh trạm y tế xã.

Kết quả: Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước máy cho sinh hoạt là cao (chiếm 54,6% năm 2012 và 83,8% năm 2013); tuy nhiên chất lượng nước máy có nhiều vấn đề trong quá trình sử dụng, đặc biệt là với những hộ gia đình được khảo sát trong năm 2013 (84,7%). Phần lớn các hộ gia đình sử dụng nước uống đóng chai hoặc nước uống đóng bình 20 lít (32,1% năm 2012 và 55,2% năm 2013), kế đến là nước máy (27,9% năm 2012 và 32,7% năm 2013). Tỷ lệ đại diện hộ gia đình cho biết có biết địa phương đang triển khai chương trình MTQGNS & VSMT NT là thấp (dưới 22%). Rất ít đối tượng nêu được lợi ích lớn nhất của một nhà tiêu hợp vệ sinh là ‘diệt được mầm bệnh có trong phân người’ (10% năm 2012 và 17,8% năm 2013). Tỷ lệ hộ gia đình có sở hữu nhà tiêu hợp vệ sinh là thấp (44,3% năm 2013), khoảng 63% trong số này có dự định xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh; tuy nhiên, đến 51,9% hộ gia đình cho biết chỉ xây dựng khi có sự hỗ trợ tài chính từ chương trình, và 55,4% hộ gia đình cho biết không có kế hoạch cụ thể để thực hiện. Chi phí mà những hộ gia đình này dự kiến có thể chi ra để xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh là từ dưới năm trăm ngàn đồng cho đến dưới một triệu đồng (chiếm khoảng 89%)

Kết luận: Nghiên cứu có nhiều hạn chế về mặt thiết kế, và tính đại diện của mẫu, vì vậy tính giá trị từ dữ kiện thu thập được là không cao. Dù vậy, dữ kiện thu được vẫn cho thấy một số điểm đáng lưu ý về thực hành sử dụng nước sinh hoạt, ăn uống, nhà tiêu hợp vệ sinh tại hộ gia đình nông thôn. Mức độ tiếp cận các thông tin về các hoạt động của chương trình MTQGNS & VSMTNT là thấp. Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước máy cho sinh hoạt, ăn uống là cao; chất lượng nước máy nông thôn lại có nhiều vấn đề cần phải cải thiện. Tỷ lệ hộ gia đình nông thôn có sở hữu nhà tiêu hợp vệ sinh là thấp, và mô hình nhà tiêu hợp vệ sinh được chấp nhận là mô hình giá rẻ.

Từ khoá: nước sinh hoạt, nước ăn uống, nhà tiêu hợp vệ sinh, hộ gia đình nông thôn


Abstract

Dang Ngoc Chanh, Nguyen Do Quoc Thong, Nguyen Tran Bao Thanh
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 - Supplement of No 6- 2014: 111 – 117

Background: Sanitation and hygiene behavior, unsafe water is ranked as one of the leading risks for global burden of disease measured in disability-adjusted life years (DALYs), and is the second leading risk accounted for 6.3 % of all burden of disease in developing countries. In Vietnam, the proportion of poor households is only 16% but the proportion of rural households without sanitary latrines is 40%. Why can unpoor households not own sanitary latrines?

Objectives:To assess practice on using domestic water, drinking water and knowledge and practice on using sanitary latrines among residents in rural areas.

Methods: This is a descriptive cross-sectional study. The target population was rural households in villages where National Target Program on Clean Water and Rural Sanitation was implemented in 2012 – 2013. The study population was households located within one kilometer of Commune Health Centers in these villages.

Results:The proportion of households using tap water for daily activities was high (54.6% in 2012 and 83,8% in 2013) but the quality of tap water was questionable. Most households used bottled water (31,2% in 2012 and 55.2% in 2013) and tap water (27.9% in 2012 and 32.7% in 2013) for drinking and cooking. However, the proportion of households aware of the National Program on Clean Water and Rural Sanitation was very low (under 22%). The proportion of households understanding the benefit of eliminating pathogens in human faeces of sanitary latrines was also very low (10% in 2012 and 17.8% in 2013). Only 44.3% of the households had their own sanitary latrines in 2013.

Conclusion: The proportion of households accessing to information on activities of the National Program was low. The proportion of households using tap water for daily activities was high but its quality need to be improved. The proportion of households with sanitary latrines was still low. Low-cost sanitary latrines were affordable.

Key words: domestic water, drinking water, sanitary latrines, rural households