Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 18(3):325. DOI
Lượt xem: 149 Lượt tải PDF: 2
Lý Huy Khanh*, Đôn Thị Thanh Thủy*, Nguyễn Đức Công**
Mở đầu: Acid uric là một yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch: tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim và đột quỵ. Acid uric máu là một xét nghiệm thường quy ở bệnh nhân tăng huyết áp trong hầu hết các khuyến cáo về tăng huyết áp. Tuy nhiên, vấn đề Acid uric máu tăng có liên quan tổn thương cơ quan đích của tăng huyết áp là do đề kháng insulin mà chính là hội chứng chuyển hóa hay không và việc điều trị tăng acid uric máu đơn thuần vẫn còn nhiều bàn cải.
Mục tiêu: Tìm tỉ lệ tăng acid uric huyết thanh ở bệnh nhân tăng huyết áp. Tìm mối liên quan giữa tăng acid uric huyết thanh và các tổn thương cơ quan đích ở tim, mạch máu và thận của tăng huyết áp. Tìm mối liên quan giữa tăng acid uric huyết thanh và các tổn thương cơ quan đích ở tim và mạch máu của tăng huyết áp không có hội chứng chuyên hóa.
Phương pháp: Mô tả cắt ngang
Kết quả: Khảo sát trên 668 bệnh nhân tăng huyết áp. Tuổi trung bình 61,0 ± 10,0. Nữ chiếm 60,8%. Acid uric huyết thanh trung bình 341,9 ± 90,6 µmol/L, ở nam cao hơn ở nữ. Tỉ lệ tăng acid uric huyết thanh 27,5%. Tuổi, vòng bụng, BMI, tỉ số eo mông, triglycerid, HDL Cholesterol, Hs_CRP, tỉ số albumin/Creatinine niệu trung bình ở nhóm có tăng acid uric cao hơn nhóm không tăng acid uric. Độ lọc cầu thận trung bình ở nhóm có tăng acid uric thấp hơn nhóm không tăng acid uric. Nam giới, cao tuổi, tăng triglycerid, giảm HDL Cholesterol, hội chứng chuyển hóa có liên quan tăng acid uric. Tăng acid uric huyết thanh ở người tăng huyết áp làm tăng nguy cơ rối loạn chức năng tâm trương thất trái 2,05 lần (OR = 2,05 [1,44 - 2,93]), và tăng nguy cơ hẹp – xơ vữa động mạch cảnh 1,92 lần (OR = 1,92 [1,32 - 2,79]), suy thận 3,29 lần (OR = 3,92 [2,60 - 5,89]),tổn thương cơ quan đích giai đoạn 3 của tăng huyết áp OR = 1,79 [1,14 – 2,82]. Không tìm thấy mối liên quan tăng acid uric với phì đại thất trái, và biến đổi điện tim kiểu thiếu máu hay nhồi máu cơ tim, tiểu đạm. Người tăng huyết áp không có hội chứng chuyển hóa, tăng acid uric huyết thanh làm tăng nguy cơ rối loạn chức năng tâm trương thất trái 2,59 lần (OR = 2,59 [1,58 - 4,25]),tăng nguy cơ hẹp – xơ vữa động mạch cảnh 2,21 lần (OR = 2,21 [1,32 - 3,70]), suy thận 3,87 lần (OR = 3,87 [2,22 - hot6,73]), tổn thương cơ quan đích giai đoạn 3 của tăng huyết áp (OR=1,92[1,05- 3,51]). Không tìm thấy mối liên quan tăng acid uric với phì đại thất trái, và biến đổi điện tim kiểu thiếu máu hay nhồi máu cơ tim, tiểu đạm.
Kết lụân: Tỉ lệ lưu hành tăng acid uric huyết thanh ở người tăng huyết áp chiếm 1/4, làm tăng nguy cơ tổn thương cơ quan đích của tăng huyết áp. Ở không có hội chứng chuyển hóa, sự liên quan của tăng acid uric với tổn thương cơ quan đích của tăng huyết áp vẫn giữ nguyên giá trị.
Từ khóa: Tăng huyết áp, acid uric, tổn thương cơ quan đích.
ASSOCIATION OF PLASMA URIC ACID WITH TARGET ORGAN
DAMAGE
IN PRIMARY HYPERTENSION.
Ly Huy Khanh*, Don Thi Thanh Thuy*,
Nguyen Duc Cong
*
Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 - No 3- 2014: 325-333
Background: Hyperuricemia is a risk factor for cardiovascular disease: hypertension, myocardial infarction and stroke. Uric acid is a routine test in hypertensive patients in most hypertension guidelines . However, increased plasma uric acid problems may be caused by insulin resistance which is the metabolic syndrome and the treatment hyperuricemia is still controversial.
Objectives: Find the rate of hyperuricemia in patients with primary hypertension. Find the relationship between hyperuricemia and target organ damage in hypertension: Heart, Blood vesssels and renal. Find the relationship between hyperuricemia and target organ damage in hypertension: Heart, Blood vesssels and renal in patients without metabolic syndrome.
Methods: Cross-sectional study.
Results: Survey on 668 patients with hypertension. The mean age was 61.0 ± 10.0. Women 60.8 %. The mean plasma uric acid was 341.9 ± 90.6 µmol/L, highers value in males than in females. Hyperuricemia was 27.5%. The mean of Age, waist circumference, BMI, waist hips ratio, triglycerides, HDL cholesterol, Hs_CRP, rate albumin/creatinine urine was higher in the group hyperuricemia. The mean glomerular filtration rate was lower in the group hyperuricemia. Men, elderly, hypertriglyceridemia , hypo_HDL_cholesterolemia, metabolic syndrome was associated with hyperuricemia. Hyperuricemia in hypertension increased the risk of left ventricular relaxation disorder 2.05 times (OR = 2.05 [ 1.44 to 2.93 ]), carotid atherosclerosis 1.92 times (OR = 1.92 [ 1.32 to 2.79 ]), kidney failure 3.29 times (OR = 3.92 [ 2.60 to 5.89 ]), and target organ damage in hypertension (OR=1.79[1.41- 2,82]). No found association between hyperuricemia with left ventricular hypertrophy, changes of ECG ischemic or myocardial infarction type, microalbuminuria. In person hypertension hasn’t metabolic syndrome, hyperuricemia in hypertension increased the risk of left ventricular relaxation disorder 2.59 times (OR = 2.59 [ 1.58 to 4.25 ]), carotid atherosclerosis 2.21 times (OR = 2.21 [ 1.32 to 3.70 ]), kidney failure 3.87 times (OR = 3.87 [ 2.22 to 6.73 ]), and target organ damage in hypertension (OR = 1.92 [1.05- 3.51]). No found association between hyperuricemia with left ventricular hypertrophy, changes of ECG ischemic or myocardial infarction type, microalbuminuria.
Conclusion: The prevalence of hyperturicemia in hypertension was 27.5%, increased risk of target organ damage in hypertension. Without metabolic syndrome, the hyperuricemia associated with target organ damage of hypertension, the value remain the same.
Keywords: hypertension, plasma uric acid, hyperuricaemia, target organ damage.