Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 18(3):289. DOI
Lượt xem: 129 Lượt tải PDF: 0
Nguyễn Đỗ Nhân*, Đỗ Kim Quế*
Đặt vấn đề: phẫu thuật tạo cầu nối mạch máu dùng lọc máu chạy thận là một phẫu thuật đơn giản. Tuy nhiên tuổi thọ cầu nối hạn hữu, bệnh xơ vữa mạch, tiểu đường, bất thường mạch máu, tai biến trong quá trình sử dụng đặt ra nhiều tình huống phức tạp trong việc tạo thông và duy trì nó thích hợp.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả những trường hợp phẫu thuật lần 2, mạch không phù hợp, mạch ghép, chuyển vị và nông hóa tĩnh mạch.
Mục tiêu nghiên cứu: tần suất nguyên nhân, hiệu quả phẫu thuật và cải thiện tiên lượng gần.
Kết quả nghiên cứu: có 35 bệnh nhân, tỉ lệ nam/nữ là 19/16. Trước mổ: Tắt hoặc hẹp nặng động mạch quay (06), tĩnh mạch nền tắc hoặc hẹp (08), hẹp tắc nặng tại cầu nối(05), phình mạch, cầu nối lưu lượng cao(04), tắc ống ghép mạch(6)... Thời gian mổ trung bình 115 + 28,7 phút. Kết quả tốt có 23 trường hợp (65,71%). Biến chứng sau mổ: tắc cầu nối (02), hẹp miệng nối (02), nhiễm trùng vết mổ(02).
Bàn luận: chuẩn bị bệnh nhân trước mổ là rất quan trọng. Siêu âm mạch máu, khám lâm sàng, trong đó cần đánh giá các yếu tố về tính chất mạch máu xơ vữa, hẹp, tắc do huyết khối, tiêm chích, chấn thương, mổ lại nhiều lần, đoạn tĩnh mạch hiệu dụng ,tĩnh mạch cánh tay, dưới đòn. Có các yếu tố tác động vào hiệu quả tạo dò như: Chọn lựa vị trí tạo dò, mạch tạo dò và miệng nối, theo dõi và phát hiện tắc cầu nối sớm sau mổ.
Kết luận: Mổ lại nhiều lần, mạch máu không phù hợp và tổn thương hẹp mạch do xơ vữa là những khó khăn trong phẫu thuật tạo dò. Dùng mạch máu tự thận giúp cải thiện tiên lượng. Có 35 trường hợp vào nghiên cứu này, kết quả sau mổ tốt có 23 trường hợp (65,71%). Tỉ lệ biến chứng tương tự nghiên cứu khác.
ARTERIOVENOUS SHUNTING FOR
HAEMODIALYSIS – COMPLICATED CASES
IN THONG NHAT HOSPITAL FROM JAN, 2012 UNTIL JUNE, 2014
Nguyen
Do Nhan, Do Kim Que
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 -
No 3- 2014: 289-294
Background: The efficacy of arteriovenous shunting is varied, depending on various factors, as vacular anatomy’s diversity, or combined atherosclerosis, or thromboembolism associated with long-term use.
Methods: Retrospective, descriptive study.
Results: 35 patients, male/female ratio is 19/16. Before surgery: occlusion or severely narrowed radial artery (06), occlusion or narrowed basilar vein (08), occlusion or severe stenosis at the bridge (05), aneurysm, overloaded bridge (04), occlusion angioplasty (6) ... After surgery: The average operation time was 115 + 28.7 minutes. Good results for 23 cases (65.71%). Complications after surgery: occlusion of the bridge (02), anastomotic stenosis (02), wound infection (02).
Discussion: Preoperative patient preparation is very important. Vascular ultrasounding, clinical examination, including the need to assess the nature and elements of vascular atherosclerosis, stenosis , thrombotic categories, injections, injuries, repeated surgeries, effective vein segments, brachial vein, subclavian vein. There are factors impacting on the effectiveness of arteriovenous shunting such as: selection of intervention sites, selection of the vein and artery to be shunted, anastomosis, monitoring and early detection of any occlusion of the bridge after surgery.
Conclusion: Repeated surgeries , inappropriate vascular selection, stenosis caused by atherosclerosis are the difficulties for arteriovenous shunting surgery. With 35 cases in this study, good postoperative results were achieved for 23 cases (65.71 %) . Complication rate was similar to other researches.