Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 18(4):143. DOI
Lượt xem: 167 Lượt tải PDF: 0
Nguyễn Thu Chung*
Mục tiêu: đánh giá hiệu quả giảm đau liên cơ thang cải tiến bằng Marcaine phối hợp gây mê nội khí quản (NKQ), duy trì mê hơi Sevoran trong phẫu thuật nội soi khớp vai.
Phương pháp nghiên cứu: tiền cứu, mô tả cắt ngang, thực hiện lâm sàng.
Đối tượng nghiên cứu: 41 bệnh nhân (BN), ASA I-II, gây tê đường liên cơ thang cải tiến thực hiện trước gây mê cho các BN có chỉ định phẫu thuật nội soi khớp vai từ tháng 10/2012 đến 09/2013 tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương.
Kết quả: vị trí gây tê là trung điểm giữa đường liên cơ thang cổ điển của Winnie và điểm gây tê đường trên đòn của Kulenkampff, bờ sau cơ ức đòn chũm, nằm trong rãnh liên cơ thang. Vị trí mũi kim hướng vào trong-ra sau- xuống dưới một góc 80 độ, tương ứng gai bên đốt sống cổ C6C7. Thời gian gây tê trung bình 4 phút. Sau gây tê, khởi mê cho bệnh nhân đặt ống nội khí quản như một cuộc gây mê thông thường nhưng chỉ duy trì mê bằng một thuốc mê hơi loại Sevoran. Thời gian chuẩn bị bệnh nhân để phẫu thuật 23 ± 9,03 phút. Thời gian phẫu thuật 98,78 ± 35,44 phút (40-180 phút). Rút ống nội khí quản sau 19,66 ± 4,3 phút (10-30 phút). Thuốc tê có tác dụng giảm đau kéo dài 341,59 38,04 phút (EVS =2). Bệnh nhân nằm lại hồi sức 209,27± 36,04 phút (120-300 phút). Không thay đổi về hô hấp, SpO2, EtCO2, ECG. Trong và sau mổ: mạch giảm 9,13% (p= 0,08; 0,47; 0,03). Huyết áp giảm 8,40% (p=0,09; 0,45; 0,02). Kỹ thuật này đáp ứng tốt cho yêu cầu của phẫu thuật viên để phục vụ bệnh nhân trong phẫu thuật nội soi khớp vai. Chưa ghi nhận tai biến, biến chứng.
Kết luận: gây tê liên cơ thang cải tiến bằng Marcaine kết hợp gây mê nội khí quản, duy trì mê Sevoran có tác dụng giảm đau kéo dài, kiểm soát mạch, huyết áp ổn định hơn gây mê thông thường, mang lại nhiều lợi ích vượt trội cho bệnh nhân. Ít tai biến biến chứng. chi phí thấp đáng kể.
Aim: to evaluate the effects of pain relief on modified brachial blockage through interscalene line with Marcaine and general anesthesia, only maintaining inhalation anesthetic Sevoran in shoulder joint endoscopic surgery.
Method: prospective study, transective description based on clinical aspects.
Objects: 41 patients, ASA I-II. Applying methods of modified brachial blockage through interscalene line on selected patients for shoulder joint endoscopic surgery from October 2012 to September 2013 at Nguyễn Tri Phương Hospital.
Results: anesthetic site is the midline of Winnie’s classic interscalene and Kulenkampff’s supraclavicular, posterior border of stenocleidomastoid muscle in the interscalene fissure. Injection site is inward, backward caudal in angle 80 degrees, corresponding lateral interspinous C6C7. Average time for blockage is 4 min. After blockage, induction is only tracheal intubation in anesthesia and maintaining inhalation anesthetic, Sevoran. Preparation time for operation is 23± 9.03 min. operation time is 98.78 ± 35.44 min (40-180). Endotracheal withdrawing is after 19.66±4.3 min. time for pain relief is 341.59 ± 38.04 min (EVS=2). Time for post operation is 209.29 ± 36.41 min (120-300). In addition no change in respiration, SpO2, EtCO2 and ECG is noticed. Pulse decreases 9.13% during and after operation. Blood pressure decreases 8.40%. No change in important complications is noticed. This technique responds well to the requirements in shoulder joint endoscopic surgery.
Conclusion: this technique is effective in pain relief. Pulse and blood pressure is controlled normally. It brings excellent results. No complicationoccurs. Cost is markedly low.