Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 18(1):430. DOI
Lượt xem: 190 Lượt tải PDF: 2
Vũ Hoàng Phương*, Nguyễn Quốc Kính*
Đặt vấn đề: Thiếu máu cục bộ là một trong những yếu tố chính gây ra tổn thương não thứ phát sau chấn thương sọ não (CTSN). Chúng tôi nghiên cứu với mục đích xác định vai trò của theo dõi giá trị áp lực liên tục của oxy mô não (PbtO2) và mối liên hệ PbtO2 với kết quả điều trị ở bệnh nhân (BN) CTSN nặng.
Đối tượng và phương pháp: 12 BN (10 nam – 2 nữ) bị CTSN nặng (GCS ≤ 8) được theo dõi và điều trị theo một phác đồ chung: đặt nội khí quản, thông khí nhân tạo, an thần và theo dõi huyết áp động mạch (HAĐM), áp lực nội sọ (ALNS), áp lực tưới máu não (ALTMN) và PbtO2 (sử dụng catheter Licox) hàng giờ trong 5 ngày. Kết quả điều trị sau 6 tháng được đánh giá bằng thang điểm Glassgow Outcome Scale (GOS).
Kết quả: Thời gian đặt catheter theo dõi PbtO2 sau tai nạn giữa 2 nhóm kết quả điều trị tốt và xấu khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,01; trung bình là 2,0 ± 1,2 (ngày). Hầu hết các BN đều có giá trị PbtO2 thấp < 20mmHg trong 24h đầu sau khi đặt Licox sau đó sau đó trở về bình thường ở ngày thứ 4, 5. Thang điểm GOS sau 6 tháng giữa 2 nhóm có giá trị PbtO2 ≤ 10 mmHg và > 10 mmHg khác biệt có ý nghĩa (p = 0,015). Diễn biến trong vòng 24h sau khi đặt Licox ở nhóm BN kết quả xấu có giá trị PbtO2<10mmHg và thời gian PbtO2< 10mmHg kéo dài (khác biệt với p = 0,047). Mối tương quan giữa ALNS với ALTMN, ALNS với PbtO2 ở nhóm kết quả xấu tương đối chặt chẽ ( r1= - 0,65 và r2= 0,55).
Kết luận: Có mối tương quan tương đối chặt chẽ giữa ALNS với ALTMN, ALNS với PbtO2 ở những BN có kết quả điều trị xấu. Giá trị PbtO2 > 10mmHg cải thiện GOS sau 6 tháng.
Background: Ischemia is one of the major factors causing secondary brain damage after traumatic brain injury (TBI). We have investigated the role of continuous monitoring the pressure of brain tissue oxygen (PbtO2) and relationship with outcome in treatment patients of severe TBI.
Methods: 12 patients (10 male - 2 female) with severe TBI (GCS ≤ 8) were followed and treated according to a standard protocol: intubation, artificial ventilation, sedation and arterial blood pressure (ABP), intracranial pressure (ICP), cerebral perfusion pressure (CPP) and PbtO2 (used catheter Licox) monitoring in 5 days. Outcome at six months was determined by Glassgow Outcome Scale (GOS).
Results: The time placed catheter PbtO2 after accident between two groups good and poor outcome were differences significantly (p = 0.01; mean = 2.0 ± 1.2 (days). Most patients had low PbtO2 values (< 20 mmHg) in the first 24 hours after placing Licox then returned to normal at 4 to 5th days. GOS after 6 months between group of PbtO2 value ≤10 mmHg and group of PbtO2 value >10 mmHg were significants difference (p = 0.015). Mean PbrO2 values within the first 24 hours after placing catheter Licox in the group poor outcome was less than 10 mm Hg and last longer (p=0.047). Correlation between ICP with CPP and ICP with PbtO2 in the group poor outcome were close (r1 = - 0.65 and r2 = 0.55).
Conclusions: ICP correlated closely with CPP and PbtO2 in group patients with poor outcomes. Values PbtO2 more than 10 mm Hg have improved GOS after 6 months.
Keywords: brain tissue oxygen pressure, PbtO2, severe traumatic brain injury.