HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner
Nghiên cứu Y Học

SỰ THAY ĐỔI LÂM SÀNG CỦA MÔ NHA CHU SAU CẠO VÔI-XỬ LÝ MẶT GỐC RĂNG 4, 6, 8 TUẦN

THE CLINICAL CHANGES IN PERIODONTAL TISSUES AT 4,6,8 WEEKS AFTER SCALING AND ROOT PLANING

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 18(2):198. DOI

Lượt xem: 282 Lượt tải PDF: 26

Tác giả

Trần Yến Nga*, Đỗ Thu Hằng*, Nguyễn Thị Quỳnh Hương**

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá sự thay đổi lâm sàng của mô nha chu sau điều trị nha chu không phẫu thuật hay điều trị sơ khởi (cạo vôi xử lý mặt gốc răng=CV-XLMGR) 4,6,8 tuần.

Phương pháp nghiên cứu: Mẫu nghiên cứu gồm 9 bệnh nhân viêm nha chu mạn tính với 294 túi nha chu được trãi qua giai đoạn điều trị sơ khởi . Tình trạng mô nha chu trước và sau điều trị (4,6,8 tuần) được đánh giá qua các chỉ số lâm sàng (chỉ số mảng bám-PlI, chỉ số nướu-GI, chảy máu khi thăm khám-BOP, độ tụt nướu-GR, độ sâu túi-PD, mất bám dính lâm sàng-CAL).

Kết quả: Sau CV-XLMGR, tất cả các chỉ số nha chu đều cải thiện đáng kể so với thời điểm trước điều trị. Từ 4 tuần đến 6-8 tuần sau CV-XLMGR: chỉ số mảng bám giảm (p < 0,05); chỉ số nướu, chảy máu khi thăm khám và độ sâu túi khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05); độ tụt nướu và mất bám dính lâm sàng tăng có ý nghĩa (p < 0,05). Như vậy có sự cải thiện rõ ràng bám dính nha chu sau XLMGR 4 tuần nhưng sau đó lại có sự phá hủy tiếp tục mô nha chu bên dưới.

Kết luận: Từ đó, nghiên cứu đề nghị người điều trị không nên tái đánh giá trể sau 6-8 tuần mà phải tiếp tục kiểm soát mảng bám chặt chẽ hơn và theo dõi để có kế hoạch điều trị tiếp theo.

Từ khóa: viêm nha chu, cạo vôi-xử lý mặt gốc răng, điều trị nha chu không phẫu thuật, tái đánh giá.

Abstract

Objective: The objective of this study was to evaluate periodontal status at 4 weeks and 6-8 weeks after scaling-root planing (SRP)(non-surgical periodontal therapy or initial therapy).

Materials and Methods: The study included nine chronic periodontitis patients with 294 periodontal pockets treated by scaling and root planing. Periodontal status was evaluated by clinical parameters (Plaque index PlI, gingival index GI, Bleeding on probing BOP, gingival recession GR, pocket depth PD, clinical attachment loss CAL) examined before SRP, 4 weeks and 6-8 weeks after SRP.

Results: Clinical parameters almost improved considerably after SRP. From 4 to 8 weeks after SRP, PlI decreased remarkably (p < 0.05), GI, BOP, PD did not change significantly (p > 0.05), GR, CAL increased noticeably (p < 0.05).

Conclusion: Periodontal attachment improved clearly 4 weeks after SRP, but periodontal tissues continued to be destroyed then. Therefore, clinical practitioners should carry on controlling plaque more carefully and keep track of following treatment planing instead of being optimistic early when periodontal status exhibited positively 4 weeks after SRP.

Keywords: periodontitis, scaling –root planing,  non-surgical periodontal therapy, reevaluation