Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 18(2):191. DOI
Lượt xem: 138 Lượt tải PDF: 3
Phạm Anh Vũ Thụy*
Mục tiêu: Đánh giá tác động của việc làm sạch bề mặt lưỡi lên tình trạng hôi miệng trên bệnh nhân có hay không bị viêm nha chu.
Phương pháp: Nghiên cứu được thực hiện trên 109 bệnh nhân (58 bệnh nhân không bị viêm nha chu và 51 bệnh nhân bị viêm nha chu) được chẩn đoán hôi miệng bằng phương pháp ngửi mùi (organoleptic test - OT) và dùng máy Oral Chroma. Tại thời điểm ban đầu, bệnh nhân được khám và đánh giá về tình trạng nha chu (chảy máu nướu, túi nha chu và độ mất bám dính), và tình trạng vệ sinh răng miệng (mảng bám răng và mảng bám lưỡi). Mức độ vi khuẩn trên bề mặt lưỡi được đánh giá bằng thuốc thử BANA. Tất cả bệnh nhân được hướng dẫn và làm sạch bề mặt lưỡi trong 7 ngày. Riêng nhóm bị viêm nha chu, tiếp theo được điều trị nha chu không phẫu thuật. Tình trạng hôi miệng và răng miệng được đánh giá lại sau mỗi thời điểm điều trị.
Kết quả: Tại thời điểm ban đầu, các chỉ số hôi miệng (OT, H2S và CH3SH) ở nhóm bệnh nhân bị viêm nha chu cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm bệnh nhân không bị viêm nha chu. Sau khi làm sạch bề mặt lưỡi, ở nhóm bệnh nhân không bị viêm nha chu, có sự giảm hôi miệng rõ rệt: OT từ 2.33 xuống 1,21, H2S từ 5,62 xuống 1,10 và CH3SH từ 3,00 xuống 0,41 (p<0,001). Ở nhóm bệnh nhân bị viêm nha chu, sau khi làm sạch lưỡi, mức độ giảm hôi miệng ít hơn: OT từ 2,82 xuống 2,61, H2S từ 7,63 xuống 4,88 và CH3SH từ 8,92 xuống 5,99 (p<0.01). Tình trạng hôi miệng được cải thiện đáng kể sau khi bệnh nhân tiếp tục điều trị viêm nha chu: OT từ 2,61 xuống 0,94, H2S từ 4,88 xuống 1,13 và CH3SH từ 5,99 xuống 0,27 (p<0,001).
Kết luận: Làm sạch bề mặt lưỡi cho thấy là biện pháp hữu hiệu nhất điều trị hôi miệng trên bệnh nhân không bị viêm nha chu. Làm sạch bề mặt lưỡi cũng có tác động làm giảm hôi miệng trên bệnh nhân bị viêm nha chu nhưng sự kết hợp với điều trị nha chu cho thấy có hiệu quả hơn.
Từ khóa: Hôi miệng, viêm nha chu, mảng bám lưỡi.
Objective: To evaluate the effect of tongue cleaning on oral malodor in 2 patients groups: non-periodontitis and periodontitis.
Methods: The study was performed on 109 subjects (58 non-periodontitis patients and 51 periodontitis patients), who were diagnosed as oral malodor by Organoleptic Test/OT and Oral Chroma. At the baseline, periodontal status (gingival bleeding on probing, gingival index, pocket depth, clinical attachment level) and oral hygiene status (plaque index, tongue coating) were evaluated. The bacterial levels on tongue coating were examined by BANA test. All subjects were instructed to clean their tongue using a small head tooth brush for 7days. Subjects in the periodontitis group were further provided non-surgical periodontal treatment.
Conclusion: Tongue cleaning was indicated as the most effective approach to oral malodor treatment in non-periodontitis patients. Tongue cleaning also impacted on oral malodor reduction but combination with periodontal treatment was more effective on oral malodor in periodontitis patients.
Key words: Oral malodor, periodontitis, tongue coating