Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 18(2):159. DOI
Lượt xem: 141 Lượt tải PDF: 0
Nguyễn Thu Thuỷ*, Trần Yến Nga*
Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm khảo sát các đặc điểm dịch tễ của bệnh nhân viêm nha chu đến khám và điều trị tại khoa Răng Hàm Mặt Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, đánh giá tình trạng viêm nha chu trước và sau điều trị đồng thời mô tả việc theo dõi sau khi điều trị tại đây.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 554 bệnh nhân đến khám và điều trị viêm nha chu tại khoa Răng Hàm Mặt ĐHYD TP. HCM từ tháng 1/2005 đến tháng 12/2010. Thu thập số liệu từ bệnh án lưu trữ tại bộ môn Nha chu, khoa Răng Hàm Mặt ĐHYD TP. HCM. Các biến thu thập gồm: tuổi, giới, trình độ học vấn, tình trạng hút thuốc lá, bệnh toàn thân, thời gian điều trị kể từ ngày khám đầu tiên đến ngày khám sau cùng, số lần tái khám, phân loại VNC, phân loại theo vị trí, số răng có túi nha chu trước và sau khi điều trị.
Kết quả: Năm 2005 và 2010, tỉ lệ nam nữ trên bệnh nhân VNC khác biệt có ý nghĩa thống kê. Độ tuổi trung bình dao động từ 43,3 đến 48,8. Có sự khác biệt có ý nghĩa giữa tỉ lệ bệnh nhân V.NC hút thuốc và không hút thuốc ở tất cả các năm. Bệnh nhân VNC có trình độ cấp 3 chiếm tỉ lệ cao nhất. Đa số bệnh nhân chưa phát hiện bệnh toàn thân. Viêm nha chu mạn là dạng bệnh VNC phổ biến nhất. Trước khi điều trị, trên bệnh nhân VNC trung bình có từ 11,9 – 14,2 răng có túi nha chu; sau điều trị, số răng có túi nha chu giảm còn trung bình 3,9 – 6,7 răng, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê ở tất cả các năm. Tuy nhiên thời gian theo dõi trung bình ngắn (1,9 – 2,5 tháng).
Kết luận: Công việc điều trị VNC tại khoa Răng Hàm Mặt ĐHYD TP. HCM có hiệu quả nhất định trong việc đem lại sức khoẻ mô nha chu. Cần có những giải pháp thích hợp để khuyến khích bệnh nhân trở lại thăm khám và điều trị duy trì.
Từ khoá: viêm nha chu, điều trị, dịch tễ, hiệu quả.
Objectives: The aims of this study were to evaluate epidemic features of patients with periodontitis coming to the faculty of Odonto-stomatology, HoChiMinh-City University of Medicine and Pharmacy; to assess the disease condition before and after treatment as well as to describe the follow-up process after being cured.
Methods: This cross-sectional descriptive study was
realized on 554 patients with periodontitis coming to have a consultation at
the faculty of Odonto-stomatology, HoChiMinh-City University of Medicine and
Pharmacy from January 2005 to December 2010. The data on gender, age, education
level, smoking status, presence of systemic diseases, average number of teeth
with periodontal pocket before and after treatment and follow-up time was
collected from documents stocked at Periodontics department.
Results: In 2005 and 2010, the difference in gender among patients with periodontitis was statistically significant. The mean age was from 43.3 to 48.8. There was a significant difference between smoking patients and non-smoking ones. Most of the patients did not find out systemic diseases. Chronic periodontitis was the most common disease type. Before treatment, the average number of teeth with periodontal pocket was from 11.9 to 14.2; after treatment, it was 3.9 – 6.7. The follow-up time was quite short (1.9 to 2.5 months)
Conclusion: The treatment at Faculty of Odonto-Stomatology was meaningful in curing periodontitis; otherwise, there must be some solutions to extend the follow-up time.