Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 18(2):144. DOI
Lượt xem: 153 Lượt tải PDF: 1
Nguyễn Lê Hữu Khoa*, Nguyễn Thị Hồng**
Mục tiêu: Bướu xương hàm ở trẻ em có những đặc điểm khác với người lớn, thường gây khó khăn trong chẩn đoán, điều trị và tiên lượng. Nghiên cứu này thực hiện nhằm xác định tỉ lệ các loại bướu xương hàm ở trẻ em và một số yếu tố dịch tễ liên quan với bệnh lý này.
Phương pháp: Hồi cứu mô tả đa trung tâm. Đối tượng là các bệnh nhân ≤ 18 tuổi điều trị bướu xương hàm tại 4 bệnh viện ở TP.HCM: Bệnh viện Nhi Đồng I, Bệnh viện RHM Trung Ương TP.HCM, Bệnh viện RHM TP.HCM và Bệnh viện Ung Bướu TP.HCM, từ năm 2010 đến 2012.
Kết quả: Trong tổng số 124 bệnh nhân, có 56% bướu do răng lành tính, 38% bướu không do răng lành tính và 6% bướu không do răng ác tính. Tỉ lệ bướu lành:bướu ác là 16,7:1; tỉ lệ bướu do răng:bướu không do răng là 1,25:1. Bướu lành tính thường gặp nhất là bướu nguyên bào men (19%) và u răng (17%), bướu ác tính thường gặp nhất là limphôm (5%). Tuổi trung bình của bệnh nhân là 12,7 tuổi, khác nhau tùy theo loại bướu (p < 0,05). Tỉ lệ bướu xương hàm tăng dần theo tuổi (p < 0,05). Trẻ dưới 6 tuổi đa số có bướu không do răng (85%), và có tỉ lệ bướu ác (31%) cao hơn trẻ trên 6 tuổi (3%) (p < 0,01). Bướu xảy ra ở nam (58%) nhiều hơn nữ (42%), với tỉ lệ nam:nữ là 1,38:1. Một số bướu thường gặp ở trẻ nam (bướu nguyên bào men, bướu biểu mô do răng canxi hóa, bướu xương, bướu sừng dạng nang do răng, bướu sợi hóa xương, loạn sản sợi, limphôm); trong khi một số loại khác hay gặp ở trẻ nữ hơn (bướu dạng tuyến do răng, bướu nhầy do răng, bướu mạch máu, u hạt tế bào khổng lồ trung tâm, u răng).
Kết luận: Bướu xương hàm tương đối phổ biến ở trẻ em nước ta. Các yếu tố dịch tễ đa dạng, có liên quan mật thiết đến các loại bướu ở xương hàm. Do đó, khi thiết lập chẩn đoán và xử trí, bác sĩ cần phải chú trọng đến những yếu tố này.
Từ khóa: Bướu xương hàm, trẻ em, do răng, không do răng, lành tính, ác tính.
Objectives: Jaw tumors in children have different from in alduts and often causes difficulties in diagnosis, treatment and prognosis. This study was carried out to determine the frequency of jaw tumors in children and the related epidemiological factors.
Patients and methods: A retrospective multicentric study was conducted
on patients under 18 years old with jaw tumors treated in 4 hospitals in Ho Chi
Minh city, including Children’s Hospital I, National Hospital of
Odonto-Stomatology, HCM city Hospital of Odonto-Stomatology and Oncology
Hospital, from 2010 to 2012.
Results: Among a total of 124 trường hợpses of jaw tumors, there were 56% benign odontogenic, 38% benign non-odontogenic and 6% malignant non-odontogenic. Benign-to-malignant ratio was 16.7, and odontogenic-to-non-odontogenic ratio was 1.25:1. Ameloblastoma (19%) and odontoma (17%) were the most common benign tumors, and lymphoma (5%) was the most common malignant tumors. The mean age of patients was 12.7 years, significantly different between tumor types (p < 0.05). The frequency of jaw tumors increased with age (p < 0.05). Almost children aged under 6 years had non-odontogenic tumors (85%), with the frequency of malignant tumors (31%) significantly higher than children aged over 6 years (3%) (p < 0.01). Jaw tumors were found in males (58%) than in females (42%), with the ratio of male:female being 1.38:1. Some tumors were more common in males (ameloblastoma, keratocyst odontogenic tumor, calcifying epithelial odontogenic tumor, ossifying fibroma, fibrous dysplasia, osteoma, lymphoma), while others were common in females (adenomatoid odontogenic tumor, odontogenic myxoma, hemangioma, central giant cell granuloma, odontoma).
Conclusions: Jaw tumors are relatively common in children in Vietnam. Tumor types exhibit variable epidemiological features. Diagnosis and management of these tumors should therefore be guided by their features.