Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 18(2):119. DOI
Lượt xem: 185 Lượt tải PDF: 13
Phạm Thị Nhất Diệu*, Ngô Thị Quỳnh Lan**, Nguyễn Thị Kim Anh**
Mục tiêu: Đánh giá mối liên quan giữa tình trạng SKRM và tác động của các vấn đề răng miệng lên sinh hoạt hàng ngày của học sinh 12, 15 tuổi tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện trên 356 trẻ 12 tuổi và 251 trẻ 15 tuổi. Dữ liệu về bệnh răng miệng được thu thập qua việc khám răng miệng (hướng dẫn của WHO 1997); Dữ liệu chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe răng miệng được thu thập phỏng vấn theo hướng dẫn của chỉ số Child-OIDP.
Kết quả: Trung bình SMT của học sinh 12 và 15 tuổi lần lượt là 1,67 và 3,19. Chỉ số nha chu CPI: chảy máu nướu là 2,12 và 2,74; vôi răng là 0,77 và 1,41. Tỷ lệ nhiễm fluor lần lượt là 9% và 3,6%. 84,6% trẻ 12 tuổi đã bị tác động của các vấn đề răng miệng lên ít nhất một hoạt động sinh hoạt hàng ngày trong 3 tháng qua. Điểm Child-OIDP chung dao động từ 0-31,94 (trung bình là 4,62 ± 4,95). Ăn nhai là hoạt động bị ảnh hưởng nhiều nhất (69,4%), kế đến là VSRM (35,1%) và cười (33,4%). Ở trẻ 15 tuổi, có 78,1% trẻ đã bị tác động của các vấn đề răng miệng lên ít nhất một hoạt động sinh hoạt hàng ngày trong 3 tháng qua. Điểm Child-OIDP chung dao động từ 0-26,39 (trung bình là 3,47±4,01). Ba hoạt động bị ảnh hưởng nhiều nhất là ăn nhai (62,9%), VSRM (36,7%) và cười (26,3%). Những vấn đề răng miệng phổ biến gây tác động lên 8 hoạt động hàng ngày là đau răng, ê răng, loét miệng, sưng nướu và chảy máu nướu. Ở lứa tuổi 15 các tình trạng lâm sàng của SKRM mà cụ thể là tình trạng sâu răng (chủ yếu tình trạng răng sâu hiện tại) và tình trạng nha chu là các yếu tố lâm sàng có mối liên quan có ý nghĩa thống kê trong việc tiên đoán các vấn đề răng miệng có tác động đến sinh hoạt hàng ngày của trẻ (p <0,05).
Kết luận: Tác động của các vấn đề SKRM lên sinh hoạt hàng ngày của trẻ em thành phố Thủ Dầu Một là rất phổ biến nhưng mức độ tác động không trầm trọng. Nghiên cứu phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khỏe răng miệng cho trẻ em.
Objective: To assess the associations between certain dental conditions and oral health-related quality of life (OHRQoL) of school children aged 12 and 15 at Thu Dau Mot city, Binh Duong province.
Results: The mean DMFT score of school children aged 12 and 15 were 1.67 and 3.19 respectively. CPI showed 2.12 and 2.74 for bleeding; 0.77 and 1.41 for calculus. 9% and 3.6% of school children aged 12 and 15 had dental fluorosis. 84.6% of 12-year-olds reported experiencing oral impacts during the past 3 months. Child-OIDP scores ranged from 0 to 31.9 (mean = 4,62; SD = 4.95). Eating was the most commonly affected performance (69.4%), followed by cleaning teeth (35.1%) and smiling (33.4%). Among 15-year-old student, 78.1% had oral impacts during the past 3 months. Child-OIDP scores ranged from 0 to 26.9 (mean = 3.47; SD = 4.01). The three most commonly affected performances were eating (62.9%), cleaning teeth (36.7%) and smiling (26.3%). Problems which contributed to all eight impacts were toothache, sensitive teech, oral ulcers, swollen gums, bleeding gums. There was a significant association betweeen active caries in the form of DMFT, periodontal problems (gingival bleeding and calculus) and OHRQoL in 15-year-old student (p<0.05).
Conclusions: Oral impacts were common but not severe in students at Thu Dau Mot city. The study reflected needs for oral health promotion.
Key words: Oral health, quality of life, child-oral impact on daily performances.