HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner
Nghiên cứu Y Học

ĐẶC ĐIỂM VÙNG LỖ HÀM DƯỚI Ở NGƯỜI VIỆT TRƯỞNG THÀNH (NGHIÊN CỨU TRÊN HÌNH ẢNH CONE BEAM CT)

THE CHARACTERISTICS OF VIETNAMESE ADULT’S MANDIBULAR FORAMEN REGION ON CONE BEAM CT IMAGES

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 18(2):61. DOI

Lượt xem: 169 Lượt tải PDF: 4

Tác giả

Đỗ Trần Kim Trinh*, Trần Hùng Lâm**, Lê Đức Lánh***

Tóm tắt

Mục tiêu: Xác định vị trí lỗ hàm dưới và độ mở của cành lên xương hàm dưới trên hình ảnh cone beam CT (CBCT) của người Việt trưởng thành.

Đối tượng và phương pháp: Mẫu nghiên cứu gồm 94 hình ảnh CBCT của 40 nam và 54 nữ tuổi từ 18 đến 74 được khảo sát cả bên phải và bên trái. Vị trí lỗ hàm dưới được xác định bằng khoảng cách từ đỉnh lưỡi hàm đến gờ ngoài và gờ trong bờ trước cành lên, khuyết sigma và mặt nhai các răng cối lớn hàm dưới. Độ mở của cành lên được xác định bằng góc tạo bởi mặt trong và mặt ngoài cành lên với mặt phẳng dọc giữa.

Kết quả: Theo chiều trước sau, lỗ hàm dưới nằm ngay sau điểm giữa chiều rộng cành lên với khoảng cách từ lỗ hàm dưới đến gờ ngoài và gờ trong bờ trước cành lên lần lượt là 22,01±0,23 mm và 14,67±0,23 mm. Theo chiều trên dưới, lỗ hàm dưới nằm dưới giới hạn giữa 1/3 trên và 2/3 dưới của chiều cao cành lên với khoảng cách từ lỗ hàm dưới đến khuyết sigma là 19,41±0,20 mm. Khoảng cách từ lỗ hàm dưới đến mặt nhai răng cối lớn thứ nhất, thứ hai và thứ ba hàm dưới lần lượt là 5,57±0,34 mm; 2,06±0,41 mm và -0,39±0,82 mm. Góc tạo bởi mặt trong cành lên và mặt phẳng dọc giữa, góc tạo bởi mặt ngoài cành lên và mặt phẳng dọc giữa tại mặt phẳng ngang đi qua đỉnh lưỡi hàm lần lượt là 26,33±0,790 và 20,04±0,290. Độ lớn hai góc này tỉ lệ thuận với nhau.

Kết luận: Hiểu biết về đặc điểm vùng lỗ hàm dưới góp phần giúp nhà lâm sàng định vị chính xác điểm mốc gây tê thần kinh xương ổ dưới, cũng như có thể thực hiện việc cắt xương hàm dưới trong phẫu thuật chỉnh hình một cách chính xác và an toàn.

Từ khóa: lỗ hàm dưới, lưỡi hàm, cone beam CT.

Abstract

Objectives: The study was to determine the location of mandibular foramen and the ramus angle in Vietnamese adults.

Methods: Standardized cone beam CT (CBCT) images were taken for 94 subjects of ages 18 to 74 (40 males and 54 females). The position of mandibular foramen was evaluated by the distances from the lingual tip to the external oblique ridge, the internal oblique ridge, mandibular notch and the occlusal surfaces of lower molars. The ramus angles were noted by the angles formed by central side/ lateral side at the level of lingual tip and mid-sagittal plane.


Results: In the antero-posterior direction, the mandibular foramen was located behind the midpoint of the width of the mandibular ramus; the distances from the mandibular foramen to the external oblique ridge and the internal oblique ridge were 22.01±0.23 mm and 14.67±0.23 mm respectively. In the supra-inferior direction, the mandibular foramen was situated under the midpoint of the superior third and the inferior two-third of the ramus, the distance between the mandibular foramen and the sigmoid notch was 19.41 ± 0.20 mm. The interval from the mandibular foramen to occlusal surfaces of the first, the second and the third lower molars were 5.57±0.34 mm; 2.06±0.41 mm and -0.39±0.82 mm respectively. The angle formed by the lingual side/ buccal side of ramus and mid-sagittal plane at the level of lingual tip were 26.33±0.790 and 20.04±0.290 correspondingly. These angles are proportional.

Conclusion: Knowledge of the characteristics of mandibular foramen region can help practicians performing inferior alveolar nerve block and sagittal split ramus osteotomy in orthographic surgery correctly and safely.

Key words: mandibular foramen, lingual, cone beam CT.