Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 18(1):349. DOI
Lượt xem: 157 Lượt tải PDF: 0
Lê Văn Hiếu Nhân*, Nguyễn Văn Ân*, Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng*
Đặt vấn đề và mục tiêu: Sử dụng laser Thulium để điều trị hẹp niệu đạo trước chưa được báo cáo tại Việt Nam. Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá kết quả sớm của điều trị hẹp niệu đạo trước bằng laser Thulium như là phương pháp mới và xâm lấn tối thiểu trong điều trị hẹp niệu đạo trước tại bệnh viện Bình Dân.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Từ tháng 03/2012 đến tháng 06/2013, tại bệnh viện Bình Dân, 30 bệnh nhân hẹp niệu đạo trước có chiều dài đoạn hẹp nhỏ hơn 2cm được đánh giá bởi hỏi bệnh sử, khám lâm sàng, đo niệu dòng đồ, chụp niệu đạo bàng quang ngược dòng cản quang trước mổ. Tất cả bệnh nhân hẹp niệu đạo trước được điều trị bằng laser Thulium, laser Thulium được dùng để cắt mô xơ theo chu vi đoạn hẹp. Quá trình được thực hiện dưới gây tê tủy sống. Trong đa số trường hợp, thông niệu đạo bàng quang là Foley 18Fr được lưu từ 2 đến 5 ngày sau mổ. Tất cả bệnh nhân được theo dõi sau 1, 3, 6 tháng bằng niệu dòng đồ và bảng câu hỏi về chất lượng cuộc sống sau mổ, nếu cần, chụp niệu đạo ngược dòng hay soi niệu đạo được thực hiện.
Kết quả: tuổi trung bình của bệnh nhân là 47,63 ± 18,81 (từ 17 đến 84). Tất cả các trường hợp hẹp là do chấn thương. Chấn thương do thầy thuốc gây ra là 23 (36,75%), chấn thương tầng sinh môn là 7 (23,3%) trường hợp. Hẹp niệu đạo hành là 11 (36,7%), hẹp niệu đạo dương vật là 19 (63,3%) trường hợp. Chiều dài đoạn hẹp nhỏ hơn 1cm là 17 (56,7%), lớn hơn 1cm là 13 (43,3%) trường hợp. Đường kính đoạn hẹp nhỏ hơn 5mm là 9 (30%), lớn hơn 5mm là 21 (70%) trường hợp. Tỉ lệ tái phát toàn bộ sau 1, 3, 6 tháng tương ứng là 3,3%, 14,3%, 29,4%. Sau 6 tháng, tỉ lệ thành công ở nhóm bệnh nhân có chiều dài đoạn hẹp nhỏ hơn 1cm là 90,0%, trong khi tỉ lệ thành công ở nhóm bệnh nhân có chiều dài đoạn hẹp lớn hơn 1cm là 42,9%, sự khác biệt về tỉ lệ thành công giữa 2 nhóm có ý nghĩa thống kê (p=0,036). Kết quả không phụ thộc vào thời gian xuất hiện triệu chứng, nguyên nhân, đường kính, hay vị trí hẹp. Biến chứng trong và sau mổ chỉ là chảy máu nhẹ.
Kết luận: Xẻ hẹp niệu đạo trước bằng laser Thulium là phương thức điều trị an toàn, hiệu quả và xâm lấn tối thiểu.Tuy nhiên, cần tiến hành những nghiên cứu ngẫu nhiên với thời gian theo dõi dài hơn để xác định giá trị lâm sàng của laser Thulium trong điều trị hẹp niệu đạo trước.
Introduction and objective: The using Thulium laser for treatinganterior urethral stricture had not been reported in Viet nam. The purpose of this study was to evaluate the preliminary results of treating anterior urethral stricture by thulium laser as a new method and minimally invasivetreatment for anterior urethral stricture at Binh Dan hospital.
Materials and methods: Between March 2012 and June 2013, at Binh Dan hospital, thirty patients with an anterior urethral stricture less than 2 cm in length were evaluated by clinical history, physical examination, uroflowmetry, and retrograde urethrogram preoperatively. All patients were treated with Thulium laser urethrotomy. Thulium laser was used to circumferentially ablate the scar tissue of the stricture segment. The procedure was carried out with the patient under spinal anaesthesis. In most cases, 18 FrFoley urethral catheter was placed from 2to 5 days. All patients were followed up for 1, 3, 6 months postoperatively by uroflowmetry, quality of life questionnaires,and if required, retrograde urethrogram or urethroscopy were done.
Results: The mean age of the patients was 47.63 ± 18.81 years (range, 17 to 84 years). All stricture cases were due to trauma, iatrogenic trauma in 23 (76.7%), pelvic traumain 7 (23.3%). Stricture site was bulbous urethra in 11 (36.7%), penile urethra in 19 (63.3%). Stricture length was less than 1cm in 17 (56.7%), more than 1cm in 13 (43.3%). Stricture diameter was less than 5mm in 9 (30%), more than 5mm in 21 (70%).The overall recurrence rate was 3.3%, 14.3%, 29.4% after 1, 3, 6 months following-up, respectively. After 6 months, the success rate in patients with strictures length less than 1cm was 90.0%, whereas more than1cm was 42.9% (p=0.036). The results did not depend on age, duration of symptoms, etiology, diameter, or location of stricture.Intraand post-operative complication werelight bleeding only.
Conclusion: The Thulium laser urethrotomy was a safeand effective minimally invasive therapeutic modalityfor enterior urethral stricture.However, randomized studies with longer following-up are necessary to determine the clinical value of the Thulium laser in the treatment of enterior urethral strictures.