HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner
Nghiên cứu Y học

ĐÁNH GIÁ TỶ LỆ SÓT BƯỚU TRONG CẮT ĐỐT NỘI SOI BƯỚU BÀNG QUANG CHƯA XÂM LẤN CƠ

ASSESSMENT RESIDUAL TUMORS AFTER TRANSURETHRAL ENDOSCOPIC RESECTION OF NON-MUSCLE INVASIVE BLADDER TUMORS

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 18(1):340. DOI

Lượt xem: 162 Lượt tải PDF: 0

Tác giả

Đào Quang Oánh*, Phan Đức Hữu**

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Ung thư bàng quang chưa xâm lấn cơ có tỉ lệ đáng kể còn sót bướu sau cắt đốt nội soi (CĐNS). Hơn nữa, có từ 4-25% chẩn đoán sai giai đoạn ở CĐNS lần đầu, điều này nói lên rằng CĐNS duy nhất một lần trong điều trị bướu bàng quang chưa xâm lấn cơ thường là chưa đủ và cần phải CĐNS lại sớm.

Mục đích: Xác định tỉ lệ sót bướu trong CĐNS bướu bàng quang chưa xâm lấn cơ bằng phương pháp CĐNS lại sớm và đánh giá các yếu tố nguy cơ liên quan đến sót bướu sau CĐNS bướu bàng quang chưa xâm lấn cơ.

Bệnh nhân – Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu lâm sàng, mô tả cắt ngang, hàng loạt ca. Đưa vào nghiên cứu các TH bướu bàng quang chưa xâm lấn cơ (Ta,T1) được chẩn đoán qua CĐNS lần đầu tại BV Bình Dân trong thời gian từ 01/2012 đến tháng 08/2013. Hẹn CĐNS lại trong vòng 4-6 tuần. Ghi nhận các yếu tố như: kích thước, số lượng, vị trí bướu, dạng đại thể, giai đoạn T, độ biệt hóa, có hay không có lớp cơ trong mẫu bệnh phẩm. Phân tích xem những yếu tố nào liên hệ đến sự kiện sót bướu sau cắt đốt lần đầu.

Kết quả: Tổng cộng có 36 trường hợp (TH) gồm 30 nam và 6 nữ thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu, được đưa vào nghiên cứu. Có 8 TH sót bướu (22,2%), gồm 6/30 TH (20%) ở bệnh nhân (bn) nam và 2/6 (33,3%) ở bn nữ.. Trong 8 TH sót bướu, có 1 TH Ta và 7 TH T1. Có 5 TH chẩn đoán lại giai đoạn (13,8%), trong đó 1 TH Ta chuyển thành T1 và 4 TH T1 chuyển thành T2. Các yếu tố: vị trí, kích thước, và dạng đại thể của bướu không liên quan đến sót bướu. Các yếu tố liên quan đến sót bướu là: số lượng bướu (≥ 2 bướu), giai đoạn T1, độ biệt hóa mô học kém (G3) và không có lớp cơ trong mẫu mô CĐNS lần đầu.

Kết luận: Phẫu thuật viên nên tiến hành CĐNS lại sớm, đặc biệt là khi có các yếu tố nguy cơ liên quan đến sót bướu như: số lượng từ 2 bướu trở lên, giai đoạn T1, độ biệt hóa kém và không có cơ trong mẫu bệnh phẩm CĐNS..

Abstract

Introduction: Significant percentage of residual tumors has been revealed after transurethral resection (TUR) of non-muscle invasive bladder tumors (BT). Moreover, there are 4-25% misdiagnosed cases after the first TUR-BT. This suggests that the second endoscopic look or reTUR-BT has to be performed soon.

Objectives: Determine the percentage of residual tumors and evaluate related factors based on early endoscopic revision after TUR of non-muscle invasive bladder tumors.

Patients – Methods: Descriptive, serial clinical cases, cross-sectional study. All cases of non-muscle invasive bladder tumors realized at Urology Department, Binh Dan Hospital during the period from 01/2012 to 08/2013, and submitted to early endoscopic revision in 4-6 weeks after the first TUR-BT were included. Recognition of factors such as: size, number, location, macroscopic apperance of tumors, T stage, grade, whether or not the presence of mucle in the pathologic specimen. Analyse to find related risk factors of residual tumors.

Results: Totally 36 cases, including 30 men and 6 women. In 8 cases (1 Ta and 7 T1) of residual tumors (22.2%), there are 6/30 (20%) cases in male and 2/6 (33.3%) cases in female patients. There are 5 re-staged cases (13.8%), in which 1 case Ta to T1 and 4 cases T1 to T2. The factors: location, size, and macroscopic appearance are not risk factors of residual tumors. Risk factors are: number of tumors (≥ 2), T1 stage, poorly differentiated grade (G3) and the absence of muscle in the pathologic specimen.

Conclusions: The surgeon should proceed with early reTUR-BT, especially when there are risk factors of residual tumors.