HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner
Nghiên cứu Y học

PHẪU THUẬT NỘI SOI MỞ RỘNG BÀNG QUANG BẰNG RUỘT KẾT HỢP VỚI CẮM LẠI NIỆU QUẢN VÀO BÀNG QUANG VÀ TẠO VAN CHUYỂN LƯU

LAPAROSCOPIC SURGERY FOR AUGMENTATION ENTEROCYSTOPLASTY COMBINED WITH URETERAL REIMPLANTATION AND URINARY CONTINENT STOMA

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 18(1):324. DOI

Lượt xem: 118 Lượt tải PDF: 0

Tác giả

Nguyễn Văn Ân*, Phạm Hữu Đoàn*, Võ Trọng Thanh Phong*

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Chúng tôi nghiên cứu khả năng ứng dụng phẫu thuật nội soi trong mở rộng bàng quang bằng ruột kết hợp với cắm lại niệu quản vào bàng quang tại Bệnh viện Bình Dân.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 68 bệnh nhân bàng quang thần kinh hoặc bàng quang kém giãn nở được phẫu thuật mở rộng bàng quang bằng ruột nội soi. Trong đó có 33 trường hợp kết hợp cắm lại niệu quản vào bàng quang và 9 trường hợp tạo van chuyển lưu nước tiểu có kiểm soát.

Kết quả: Từ tháng 06/2008 đến 04/ 2013, có 68 trường hợp phẫu thuật mở rộng bàng quang bằng ruột được thực hiện ở Bệnh viện Bình Dân, gồm 37 nam và 31 nữ. Tuổi trung bình là 35,89.Thời gian mổ trung bình là 317,78 phút.Một trường hợp chuyển mổ hở để kiểm tra và sửa chữa cuống mạc treo bị xoắn 1800. Thời gian nằm viện trung bình 9,96 ngày. Thời gian theo dõi từ 3 – 36 tháng. Ba trường hợp tắc ruột hoặc bán tắc ruột trong khoảng thời gian 1 tháng sau mổ, trong đó một bệnh nhân phải mổ cấp cứu. Một trường hợp khác vỡ bàng quang sau mổ 10 tháng phải mổ khâu bàng quang.

Kết luận: Có thể thực hiện phẫu thuật mở rộng bàng quang bằng ruột qua ngả nội soi ổ bụng thành công với sự hiệu quả và an toàn trong điều kiện của Việt Nam. Đã có nhiều tác giả báo cáo về phẫu thuât mở rộng bàng quang bằng ruột qua ngả nội soi ổ bụng, nhưng theo hiểu biết của chúng tôi, đây có thể là báo cáo đầu tiên ứng dụng phẫu thuật nội soi trong mở rộng bàng quang bằng ruột kết hợp đồng thời với cắm lại niệu quản vào bàng quang và tạo van chuyển lưu nước tiểu có kiểm soát.

Abstract

Purpose: We study the possibility of using laparoscopy to perform augmentation enterocystoplasty associated with ureteral reimplantation in Binh Dan hospital, Viet Nam.

Methods and materials: 68 neurogenic bladder or low-compliance bladder patients were operated by augmentation enterocystoplasty via laparoscopy. Among them, 33 were combined with reimplanting ureters to augmented bladders, and 9 were associated with performing continent stomas.

Results: From July 2008 to April 2013, 68 cases of augmentation enterocystoplasty by laparoscopy were performed at Binh Dan hospital, composed of 37 men and 31 women. Mean ages ~ 35,89. Mean operation time was ~ 371,78 minutes. One case had to convert caused by being twisted of pedicle of intestinal portion used for plasty. Mean hospital stay was ~ 9,96 days. Times of following-up from 3 – 36 months. Three cases was suffered from intestinal obstruction 1 month post-op and one had to reoperate. Another case was suffered from augmented bladder perforation caused having no interrupted catheterization 10 months after operation and had to reoperate.

Conclusion: Augmentation enterocystoplasty via laparoscopic surgery can be performed successfully with efficacy and safety in the condition of Viet Nam. Many authors have reported laparoscopic augmentation cystoplasty, but to our knowledge, this may be the first report which performs laparoscopic augmentation enterocystoplasty, ureteral reimplantation and continent stoma simultaneously.