HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner
Nghiên cứu Y học

GÂY MÊ HỒI SỨC CHO PHẪU THUẬT CẮT BÀNG QUANG TẬN GỐC KÈM TẠO HÌNH BÀNG QUANG BẰNG RUỘT

ANESTHESIA IN THE SURGERY OF RADICAL CYSTECCOMY AND ORTHOTOPIC ILEAL NEOBLADDER

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 18(1):312. DOI

Lượt xem: 162 Lượt tải PDF: 0

Tác giả

Trần Thị Ngọc Phượng*, Huỳnh Thị Thỉ*, Trần Đỗ Anh Vũ*, Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng**

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Phẫu thuật cắt bàng quang tận gốc kèm tạo hình bàng quang tân tạo bằng ruột phát triển mạnh trong những năm gần đây tại bệnh viện Bình Dân. Các nghiên cứu về phương diện gây mê hồi sức trong nước cho phẫu thuật này hầu như chưa được tiến hành.

Mục tiêu: Khảo sát các đặc điểm gây mê hồi sức trong phẫu thuật cắt bàng quang toàn phần kèm tạo hình bàng quang tân tạo bằng ruột. Xác định hiệu quả của phương pháp gây mê toàn diện kết hợp gây tê ngoài màng cứng (NMC) cho phẫu thuật.

Phương pháp nghiên cứu: cắt ngang, mô tả. Từ tháng 01/2012 đến tháng 03/2013, tại bệnh viện Bình Dân, chúng tôi nghiên cứu 53 trường hợp ASA từ 1 đến 2, được gây mê hồi sức cho mổ mở cắt bàng quang, tạo hình bàng quang tân tạo bằng ruột.

Kết quả: tuổi trung bình trong mẫu nghiên cứu: 58,5 ± 10,9 tuổi (35 – 81). Thời gian gây mê phẫu thuật 407 ± 58 phút (300 – 520 phút). Lượng máu mất trung bình 464 ± 269 mL (200 – 1500 mL). Có 21 trường hợp (39,62 %) cần truyền máu. Thời gian lưu ICU 12,03 ± 4,93 giờ (4 – 27 giờ), số ngày hậu phẫu 15,8 ± 5,7 ngày (8 – 41 ngày). Có 18/53 bệnh nhân được gây tê ngoài màng cứng phối hợp gây mê toàn diện. Tất cả các trường hợp có sử dụng catheter NMC đều đáp ứng đủ nhu cầu thao tác ngoại khoa trong mổ, không sử dụng thêm opioids tĩnh mạch ngoại trừ liều khởi mê.

Kết luận: phẫu thuật cắt bàng quang toàn phần kèm tạo hình bàng quang tân tạo bằng ruột tạo ra rất nhiều khó khăn cho công việc gây mê hồi sức. Phương pháp gây mê toàn diện phối hợp gây tê ngoài màng cứng tạo ra kết quả vô cảm trong mổ cũng như chất lượng giảm đau sau mổ rất tốt.

Abstract

Background: In recent years, the surgery of radical cysteccomy and orthotopic ileal neobladder has been widely used at Binh Dan hospital. Domestic studies in terms of anaesthesia hardly have been carried out.

Objectives: This study investigates the features of anesthesia in the surgery of radical cysteccomy and orthotopic ileal neobladder as well as determines the effects of a combined general - epidural anesthesia technique in operation.

Methods: cross-sectional study. 53 ASA physical status 1 - 2 patients undergoing the surgery of radical cysteccomy and orthotopic ileal neobladder were studied at at Binh Dan hospital from 2012 January to 2013 March.

Results: Average ages: 58.5 ± 10.9 years (35 – 81). Duration of surgery: 407 ± 58 minutes (300 – 520). Mean estimated blood loss was 464 ± 269 mL (200 – 1500 mL). There were 21 cases (occupied 39.62 %) needed transfusion. Patients’duration stayed at ICU: 12.03 ± 4.93 hours (4 – 27). The postoperative days: 15.8 ± 5.7 days (8 – 41). There were 18 patients among 53 patients who were used the combined general - epidural anesthesia technique. In all cases used epidural, the patients had no negative responses to the stimulus provided during the surgical procedure. Anesthesiologists rarely needed to administer intravenous opioids except a conductive dose.

Conclusions: The surgery of radical cysteccomy and orthotopic ileal neobladder causes great deal of considerable difficulty when administering anaesthesia. The combined general - epidural anaesthesia technique results in both efficient anaesthesia and an extremely positive postoperative analgesia.