Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 18(1):259. DOI
Lượt xem: 141 Lượt tải PDF: 0
Văn Tần*, Hồ Nam*, Trần Công Quyền*, Hoàng Danh Tấn*, Nguyễn Ngọc Bình*, Hồ Huỳnh Long*, Hồ Khánh Đức*, Nguyễn Bá Minh Nhật*
Đặt vấn đề: Ướt bàn tay do mồ hôi là hội chứng thường gặp ở người lao động trẻ, gây trở ngại lao động học tập và giao tiếp. Điều trị hiệu quả nhất là cắt thần kinh giao cảm (TKGC) ngực. Ngày nay không còn ai sử dụng mổ mở Về NSLN, lỗ trocar vào ngực trên đường nách giữa ở người bệnh nằm nghiêng. Nếu muốn thực hiện phẫu thuật bên kia thì phải xoay người bệnh. Với kỹ thuật này, phải mổ 2 lần ở 1 người bệnh. Cắt bỏ đoạn TKGC từ sườn 2 đến sườn 4 thường gây đổ mồ hôi bù trừ (MHBT) cao, là một biến chứng rất khó điều trị. Nhiều báo cáo cho thấy kết quả khô bàn tay đạt trên 98% nhưng tỉ lệ đổ MHBT có thể lên đến 70%.
Mục tiêu: - NC cải tiến thế nằm và đường vào ngực để có thể thám sát và cắt TKGC ngực 2 bên ở 1 thế nằm trong 1 lần mổ. - NC cải tiến phẫu thuật để có thể giảm tiết MHBT.
Phương pháp và đối tượng: Cải tiến thế nằm, đường mổ: - Người bệnh nằm sấp hay nằm ngửa sau khi gây mê với thông NKQ cho xẹp phổi từng bên. - Soi và mổ qua 2 lỗ rồi 1 lỗ vào ngực trên đường nách sau (nằm sấp) hay nách trước (nằm ngửa) - Cải tiến PP phẫu thuật: cắt đứt ngang TKGC trên sườn 2 và 3 thay vì cắt bỏ cả đoạn thần kinh. - Trang thiết bị: Máy nội soi Olympus và Storz với camera 0, trocar ngắn không van 10 mm hay 5 mm. - Bệnh nhân: 3867 BN bị ướt bàn tay do MH, gây trở ngại lao động, học tập, sinh hoạt, giao tiếp, yêu cầu được điều trị tại BV Bình Dân từ tháng 8 năm 1996 đến tháng 6 năm 2011. 2 nhóm bệnh được điều trị theo 2 PP phẫu thuật ở 2 thời kỳ khác nhau: Nhóm 1 mổ với thế nằm nghiêng, lỗ vào trên đường nách giữa, cả đoạn TKGC 2-3- 4 phải cắt bỏ. Nhóm 2, nằm sấp hay nằm ngửa, lỗ vào trên đường nách sau hay nách giũa, chỉ cắt đứt ngang TKGC trên các sườn 2 và 3 hay chỉ trên sườn 2. Tỉ lệ nam/nữ 3/2, tuổi trung bình 25, hơn ½ đến từ các tỉnh. Hầu hết là học sinh, sinh viên và công nhân. Cả 2 nhóm không có sự khác biệt về tuổi tác, nam nữ, nghề nghiệp và các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng.
Kết quả: Nhóm 1 có 102 và nhóm 2 có 3765. Trừ 1 BN không thể thực hiện phẫu thuật vì không đặt được ống nội khí quản để gây mê và 14 BN chỉ cắt được TKGC 1 bên vì bên kia phổi dính nhiều vào lá thành, kết quả phẫu thuật đạt được như sau: Tỉ lệ khô bàn tay sau mổ ở nhóm 1 là 97,3%, nhóm 2 là 96,8%. Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Tỉ lệ đổ MHBT ở các nơi khác trên cơ thể ở nhóm 1: 41%, ở nhóm 2: 24%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Tỉ lệ đổ mồ hôi bù trừ nhiều gây nhiều phiền phức ở nhóm 1 là 4%, ở nhóm 2 là 0%. Thời gian mổ và số lỗ trocar vào ngực giảm ở nhóm 2, từ 2 đến còn 1 lỗ so với nhóm 1, 3 lỗ. Ở nhóm 1 có 1 BN, ở nhóm 2 có 5 BN phải dẫn lưu màng phổi trong 24 giờ. Tất cả đều không dùng kháng sinh và chỉ có 1 BN bị nhiễm trùng vết mổ ở nhóm 2. Tất cả đều được chụp phổi kiểm tra ngay sau mổ, được xuất viện ngày hôm sau. Không có biến chứng cần can thiệp phẫu thuật lại trong và sau mổ. Trong theo dõi từ 3 tháng đến 15 năm, trung bình là 60 tháng trên 80% BN, chỉ có 9 BN ở nhóm 2 và 1 BN ở nhóm 1 tái phát một hoặc cả 2 bên và 7 BN đã mổ lại (NS) với kết quả rất tốt.
Standard Thoracic Sympathectomy (TS) involves removal of the sympathetic nerve (SN) with thoracic ganglia 2, 3 and 4. This is the standard approach for palmar hyperhydrosis (PH), Raynaud’s phenomena, Buerger’s disease and causalgia. There are many surgical approaches and techniques for TS: By these procedures, many reports showed over 95% of the wet hand having been cured, though a high compensary sweating (CSw) rate, from 21 to 70% was reported.
Purpose: We study the modifed technique of TS to treat the PH for getting 2 aims: To practice the bilateral thoracoscopic sympathectomy with 1 patient position. To reduce the rate of CSw.
Method: 1- As approach, patient is in prone at first and in supine since 2004. 2- As treatment, only the SN on T2 or on T2 and T3 is transected without removal. The Olympus and Storz laparoscopic system are used with short, valveless trocars: 10 or 7 and 5 mm. A double lumen tracheal intubation is applied for selective each side lung collapse. The results are randomized with a group operated by lateral position with the SN from T2 to T4 removed.
Patients: From August 1996 to June 2011, in 3867 patients operated (besides 1 case that we can’t intubate and 14 cases, the SN of one side can’t be cut because dense adhesions), there are: - 102 patients of group 1: the SN from T2 to T4 was dissected and removed. Patients were on the right then on left lateral decubitus with a 3 ports procedure. - 3765 patients of group II: the SN on T2 and T3 were transected without removed. Patients were on prone with a 2 ports or in supine with 1 port procedure. The middle age, 25, the gender rate male/female, 3/2, the occupations (almost are students and young workers), the history of disease, the clinical and paraclinical characteristics of 2 groups are almost the same.
Results: The rate of wet hand cured were 97.5% in the group I and 96.8% in the group II. The CSw of the group I is 41% with 4%, severe sweating and of the group II, the rate, only 24% and none having had severe sweating. As complications, one side pneumothorax must be drained within 24 hours in 1 case of the group 1 and 5 cases of the group II. Port infection in 1 case of the group II. The other intra and post operative complications as long lasting thoracic pain, mild dypnea, local lung contusion or torn are seldom. The operative time and the ports are reduced in the group II, (2 ports or 1 port) in comparision with group I (3 ports). There are any technical difficulties in group II in comparision with group I. In the follow-up from 3 months to 15 years, (60 months average) of more than 80% of cases; there are only 1 case of group I and 9 cases of group II that the PH recurs in one side. 7 cases reoperated, got good results.
Conclusion: With posterior approach (patients in prone) or anterior approach (patients in supine), we can practice the TS (almost of patients) of both thoracic cavities in one operation with one port 7mm. The transection of sympathetic nerve on the T2 or on T2 and T3 is sufficient to cure 96.8% of wet hands and can reduce a lot of the CSw. Recurrence of wet hand after the procedure is seldom in long-term follow-up.