Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 18(1):232. DOI
Lượt xem: 150 Lượt tải PDF: 1
Nguyễn Văn Chinh*, Lê Hữu Bình*, Nguyễn Văn Chừng*
Mục tiêu: Khảo sát tính an toàn, hiệu quả và ưu nhược điểm của mặt nạ thanh quản Proseal so với phương pháp đặt nội khí quản trong gây mê phẫu thuật cấp cứu.
Phương pháp nghiên cứu: Tiền cứu, phân tích, can thiệp lâm sàng. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 160 bệnh nhân chia thành 2 nhóm ngẫu nhiên gây mê mặt nạ thanh quản Proseal và gây mê nội khí quản.Thu thập các số liệu: tuổi, giới tính, chỉ số BMI, các bệnh kèm theo, tỷ lệ đặt thành công, mạch, huyết áp, SpO2, EtCO2, áp lực đường thở cùng với các tai biến, biến chứng trong quá trình gây mê và sau mổ.
Kết quả: Tỷ lệ đặt thành công 100%(lần đầu 90,90%, lần hai 9,10%), thời gian đặt trung bình 26,05 giây. Các nghiệm pháp xác định vị trí phát hiện đặt sai 6 trường hợp và tất cả điều chỉnh thành công. Không khác biệt về hiệu quả thông khí giữa 2 nhóm. Nhóm mặt nạ thanh quản Proseal ổn định huyết động hơn nhóm nội khí quản nhất là giai đoạn đặt và rút dụng cụ. Không trường hợp xảy ra trào ngược và hít sặc. Không ghi nhận các tai biến biến chứng liên quan đến các nhóm nghiên cứu.
Kết luận: Phương pháp gây mê toàn diện mặt nạ thanh quản Proseal có tính an toàn và hiệu quả trong phẫu thuật cấp cứu. Việc chuẩn bị tốt trước phẫu thuật và theo dõi chặt chẻ trong và sau gây mê sẽ làm giảm các tai biến biến chứng, đồng thời làm tăng tỷ lệ thành công của nghiên cứu.
Objectives: To compare of the effect of proseal laryngeal mask airway (PLMA) with endotracheal tube (ETT) with respect to safety, pulmonary ventilation and advantages in anesthesia for emergency surgery.
Methods: Prospective, randomized study. One hundred and sixty laparoscopic appendectomy anesthetized patients (ASA I, II) were randomly allocated for airway management with the PLMA or ETT. Ages, sex, BMI, coexisting medical illnesses, insertion success rates, insertion time, pulse rate, blood pressure, SpO2, EtCO2, airway pressure and accidents were recorded during and after anesthesia for emergency surgery.
Results: Insertion success rates were 100% (first and second attempt success were 90.90% and 9.10% respectively), median insertion time was 26.05s. Special tests which confirm incorrect positions recognize 6 cases but all reinsert successfully. There were no differences in pulmonary ventilation for both groups. The haemodynamic changes to insertion and removal were greater for ETT than PLMA. No cases of regurgitation or aspiration were recorded. Of the complications reported, none appeared to be related to study.
Conclusion: Anesthesia with PLMA is safe and effective in anesthesia for emergency surgery. Close careful monitoring during and after anesthesia must be applied in order to detect and manage in time complications. It will contribute to succesful study.