HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner
Nghiên cứu Y học

KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU ĐIỀU TRỊ NHỒI MÁU MẠC NỐI LỚN NGUYÊN PHÁT

INITIAL RESULTS IN TREATMENT PRIMARY SEGMENTAL INFARCTION OF GREATER OMENTUM

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 18(1):155. DOI

Lượt xem: 174 Lượt tải PDF: 0

Tác giả

Nguyễn Thanh Phong*

Tóm tắt

Mở đầu: Nhồi máu nguyên phát một phần mạc nối lớn là nguyên nhân ít gặp ở bệnh nhân đau bụng cấp. Cho đến nay vẫn chưa tìm thấy nguyên nhân, bệnh có biểu hiện lâm sàng giống như viêm ruột thừa cấp và thường chỉ xác định được khi mổ.

Mục tiêu nghiên cứu: nhằm nêu kết quả bước đầu trong chẩn đoán và xử trí nhồi máu nguyên phát một phần mạc nối lớn.

Đối tượng- Phương pháp: hồi cứu các trường hợp nhồi máu nguyên phát một phần mạc nối lớn được điều trị tại khoa cấp cứu bệnh viện Bình Dân từ tháng 1/2010 đến tháng 8/2013.

Kết quả: Có 16 bệnh nhân bao gồm 10 nữ và 6 nam, tuổi trung bình 45 (thay đổi từ 22 đến 70 tuổi). Biểu hiện lâm sàng gồm: đau hố chậu phải 8 (50%) trường hợp, hạ sườn phải 4 (25%) t.h, nửa bụng phải 3 (18,8%) t.h, quanh rốn 1 (6,2%)t.h, phản ứng thành bụng 14(87,5%) trường hợp. Về cận lâm sàng, 68,8% t.h có bạch cầu tăng trên 10000/mm3. Siêu âm bụng kết luận được ở 4 (25%) t.h, trong khi CT scan bụng được thực hiện ở 7 t.h nhưng chỉ cho chẩn đoán chính xác được 42,8%. Có 14 (87,5%) trường hợp được mổ nội soi, 2 (12,5%) trường hợp mổ mở. Thời gian nằm viện sau mổ trung bình 4,6 ngày. Có 1 (6,2%) trường hợp có biến chứng viêm hô hấp hậu phẫu ở bệnh nhân nữ 70 tuổi, không có tử vong.

Kết luận: Nhồi máu nguyên phát một phần mạc nối lớn vẫn còn là thách thức vì những dấu hiệu và triệu chứng không đặc hiệu và được xem như là một trong những chẩn đoán phân biệt của bệnh nhân đau hố chậu phải. Vì thế, kiểm tra mạc nối lớn nên là động tác thường qui trong lúc mổ khi mà những nguyên nhân thường gặp của đau bụng cấp không tìm thấy.

Abstract

Background: primary right segmental infarction of the greater omentum is an uncommon cause of acute abdominal pain. The aetiology has been still unclear, the symptoms mimick acute appendicitis and can usually only be established during surgery.

The aim of the study: We report our initial results in diagnosis and treatment primary segmental infarction of the greater omentum.

Methods: Having retrospectively studied of primary segmental infarction of the greater omentum treated at Binh Dan hospital from January 2010 to August 2013.

Results: There were 16 patients including 10 females and 6 males with the mean age of 45 years (range 22 to 70 years). Clinical manifestations were included: right lower quadrant pain 8 (50%), right upper quadrant pain 4 (25%), right abdominal pain 3 (18.8%) and periumbilicus 1 (6.2%), abdominal tenderness 14 (87.5%). In paraclinical datas, WBC above 10000/mm3 was noticed in 68.8% of cases. Abdominal ultrasound was conclusive in 25%, while CT scan was done in 7 patients but correct diagnosis was obtained in only 3 patients (42.8%). 14 (87.5%) patients were suffered from laparoscopic surgery and 2 (12.5%) open surgery. There was 1 (6.2%) postoperative pneumonitis in 70 year-old female and have been no death.

Conclusion: primary segmental infarction of the greater omentum is still a challenge because of its nonspecific symptoms and signs, and should be included in the differential diagnosis of any patient with right lower quadrant pain. Therefore, inspection of the omentum should be a routine part of exploration when a more common cause of acute abdominal pain is not readily apparent at operation.