HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner
Nghiên cứu Y học

UNG THƯ TÚI MẬT TẠI BV BÌNH DÂN

CANCER OF THE GALLBLADDER AT BINH DAN HOSPITAL

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 18(1):149. DOI

Lượt xem: 175 Lượt tải PDF: 0

Tác giả

Văn Tần*, Dương Văn Hải*, Nguyễn Cao Cương*, Bùi Mạnh Côn*, Hoàng Danh Tấn*

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Ung thư túi mật có tiên lượng xấu, ở phương tây, tỉ lệ sống 5 năm là từ 5 đến 38%. Ung thư túi mật đứng hàng thứ 5 trong ung thư tiêu hoá, thường gặp ở nữ, trên 65 tuổi. Ung thư túi mật có liên hệ viêm kinh niên, mà sỏi mật là nguyên nhân chính, chiếm 75 đến 90% trường hợp. Ở Mỹ, người bị sỏi mật và viêm kinh niên bị ung thư 7 lần hơn người không bị sỏi mật và không viêm.

Mục tiêu: Nghiên cứu ung thư túi mật về lâm sàng và kết quả điều trị.

Đối tượng và Phương pháp: Là hồi cứu những trường hợp ung thư túi mật từ tháng 7 năm 2006 đến hết tháng 12 năm 2009. 80 TH ung thư túi mật trong số 7456 TH cắt túi mật viêm được tìm thấy. Trong số 80 TH có nam 40, nữ 40, tuổi trung bình 55. Có 10 TH có sỏi túi mật, chiếm tỉ lệ 12,5.

Kết quả: Về lâm sàng: Nhóm thứ nhất: Bệnh nhân đau hsp, thỉnh thoảng có sốt. Có khi viêm túi mật cấp hay kinh niên, thành túi mật dày. Sau mổ, trên hình ảnh mô bướu mới thấy u, nhóm này có 33 TH. Nhóm thứ hai: u sờ được ở hạ sườn phải, xâm lấn gan, chèn ép đường mật gây vàng da tắc mật, nhóm này có 47 TH. Trên siêu âm hay CT, thấy thành túi mật dày một chỗ, thành túi mật không đều hay u lớn bung ra trong lòng túi mật và xâm lấn gan, đường mật nhóm thứ hai.

Về phẫu thuật: Có 33 TH mổ nội soi và 47 TH mổ mở, trong thời gian đó, có 300 TH polip túi mật, hầu hết được mổ nội soi, chỉ có 5 TH mổ mở. Những TH mổ nội soi gồm có u khu trú trong túi mật, không thấy hạch. Những TH mổ mở gồm có u đã ăn lan ra khỏi thành túi mật nên cắt túi mật mở rộng, như cắt túi mật mở 4 TH, cắt túi mật, mở OMC DL 29 TH, cắt túi mật, cắt gan 6 TH, cắt túi mật, cắt ống mặt chủ, nối ống mật chủ, dẫn lưu Kehr, 2 TH, cắt túi mật, cắt ống mật chủ-nối mật ruột 3 TH, cắt túi mật- nối vị tràng 3 TH,…, nạo hạch. 42 TH nằm viện trên 10 ngày. 1 TH tử vong, nằm viện 35 ngày do dò mật-ruột dẫn đến suy kiệt. Trong theo dõi những TH T1, có 31 TH, theo dõi trung bình 2 năm, 85% TH còn sống; những TH phẫu thuật mở rộng, theo dõi được 21 TH, 45 % còn sống. Có 18 TH mổ lại vì nghẹt mật hay nghẹt ruột. Hoá trị với 5FU và cisplatin nhưng không thể lượng giá kết quả.

Kết luận: Ung thư túi mật là ung thư nặng, cần đề phòng khi cắt túi mật nôi soi, đặc biệt là những TH đã bị biến chứng như viêm túi mật cấp, apxe túi mật, túi mật hoại tử, VPM mật, cắt túi mật mà không đế ý làm vung rãi tế bào ung thư. Khi bướu ở T2, nên mổ mở, cắt túi mật nạo hạch tận gốc, cắt các bộ phận ăn lan. Tiên lượng khói u T3 thường xấu.

Abstract

Background: Cancer of the GB have bad prognosis. In the occidental countries, the rate of survival 5 years is from 5 to 38%. Cancer of the GB is the 5th digestive cancer, usually met on female over than 65yo. Cancer of the GB relate to chronic inflammation. Cholecystis with stones that are the main cause, occupy from 75 to 90% of cases. In USA, men who have stone in the biliary system and chronic inflammation, have cancer of the GB 7th time more than men who have no stone and inflammation of biliary system.

Objective: We study the clinical manifestations and the surgical result of the GB cancer.

Patients and Method: It is a poststudy of the GB cancer from July 2006 to December 2009.

Result: 80 cases of GB cancer among 7456 cases of LC. In the 80 cases, male 40, female 40, and middle age 55. 10 cases have gall stones, the ratio is 12.5. - Group 1: 33 cases, patients have subcostal pain with fever, dyspepsy mimic as acute or chronic cholecystitis with stones in the gall bladder. The ultrasound not found abnomality, but the pathology found cancer in the wall. Group 2: they have exquise pain of subcostal or RUQ pain, with light jaudice. At examination, we found a subcostal mass. The ultrasound or CT found a thick or irregularity of the gall bladder wall or a mass develop intra lumen of the gall bladder. - 33 cases have LC and 47 cases, opened cholecystectomy, at the same time, we operate in LC 300 cases of polip of GB with 5 cases. The cases that the LC are done have tumor confine in the GB, and no lymph nodes. The cases that cancer develop out of the GB wall are extended removal of the GB, in opened cholecystectomy: 4, cholecystectomy - CBD drainage; 29, cholecystectomy - hepatectomy: 6, cholecystectomy - CBD removal, with biliary anastomosis; 2, cholecystectomy - CBD removal, biliari-enterotomy anastomosis; 3, cholecystectomy - gastrointestinal anastomosis: 3. removal of lymph nodes. There are 42 cases stayed in hospital over 10 days. 1 case died in hospital for 35th days, 72 yo, due to fistula, cirrhosis and debility. In the follow-up during 2 years, the 33 cases T1, 85% is still alive. The cases of extended cholecystectomy (47 cases), 45 % is still alive, but there are 18 cases came back to hospital because of stenosis of bile tract or small bowel, they must be reoperated. Almost cases have chemotherapy with 5 FU and cisplatinum..  

Conclusion: Cancer of the GB is a severe disease. As, clinical manifestations, the syndrom is mimic a chronic or acute cholecystitis, except the advanced case that the tumor is in the subcostal area. We perform the LC for the early cases (T1). In advanced cases, LC causes seeding the cancer cell. So when we found tumor that is T2, the opened cholecystectomy is mandatory, removal nodes, removal the extended viscera and anastomosis. The prognosis is bad in these cases.