Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 16(1):18. DOI
Lượt xem: 143 Lượt tải PDF: 4
Lê Thị Cẩm Ly, Trần Phủ Mạnh Siêu, Trần Thị Kim Dung, Trần Vinh Hiển
Mục
tiêu: 1. Xác định sự tương quan
giữa số lượng bạch cầu toan tính và hiệu giá kháng thể lớp IgG kháng
Cysticercus cellulosae, Fasciola sp, Gnathostoma sp, Strongyloides stercoralis,
Toxocara canis. 2. Xác định tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường ruột ở những bệnh
nhân tăng bạch cầu toan tính. 3. Mô tả những biểu hiện lâm sàng ở những bệnh
nhân tăng bạch cầu toan tính có nhiễm ký sinh trùng: Cysticercus cellulosae,
Fasciola sp, Gnathostoma sp, Strongyloides stercoralis, Toxocara canis, ký sinh trùng đường ruột.
Đối
tượng và phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang 329 bệnh nhân có số lượng bạch cầu toan tính tăng
trên 300tb/ml từ 06/2010 đến 06/2011 tại Bệnh Viện Bệnh Nhiệt Đới TP Hồ Chí
Minh.
Kết
quả và bàn luận: Mối tương quan
giữa số lượng bạch cầu toan tính trong máu ngoại biên và hiệu giá kháng thể: có
mối tương quan thuận ở mức độ vừa trong bệnh nhiễm ký sinh trùng: Gnathostoma sp,
Strongyloides stercoralis; ở mức độ rất yếu đối với Cysticercus cellulosae và Fasciola
sp; không có sự tương quan trong bệnh
nhiễm Toxocara
canis. Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường
ruột trên những bệnh nhân tăng bạch cầu toan tính là 11,5%, đa số là nhiễm sán
dải bò Taenia saginata. Biểu hiện lâm sàng của từng bệnh nhiễm ký sinh trùng rất
đa dạng, phù hợp với y văn.
Objective: 1. To define the relationship between
eosinophilia and the titer antibodies in some common helminthiasis: cysticercosis,
fascioliasis, gnathostomiasis, strongyliasis, toxocariasis. 2. To define prevalence
of intestinal helminthiasis on eosinophilia patients. 3. To describe the
clinical symptoms of cysticercosis, fascioliasis, gnathostomiasis,
strongyloidiasis, toxocariasis and intestinal
helminthiasis.
Methods: Cross-sectional study on 329 patients, who have
eosinophilia (> 300 cells/ml) at Hospital for Tropical diseases HoChiMinh
city from June 2010 to June 2011.
Results
and conclusion: the eosinophilia
had direct ratio with the titer antibody of gnathostomiasis, strongyloidiasis, cysticercosis,
fascioliasis. It didn’t have the
relationship between eosinophilia and the titer of antibody in toxocariasis. Prevalence of intestinal parasites was 11.55%
(Taenia saginata). Clinical symptoms were multiform and according to medicine
reference material.