Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 16(1):48. DOI
Lượt xem: 114 Lượt tải PDF: 0
Trần Phủ Mạnh Siêu*, Nguyễn Thị Mỹ Liên*, Trịnh Thị Thu*
Đặt vấn đề: tình hình sốt rét tại TP. HCM năm 2011 có đợt dịch
bùng phát ở huyện
Nhà Bè TP. HCM. Ký sinh trùng sốt rét phân lập được là Plasmodium vivax, muỗi truyền bệnh
là Anopheles epiropticus. Đây là đợt dịch
đầu tiên sau nhiều năm vắng bóng, tuy nhiên bằng các biện pháp can thiệp về dịch
tễ và điều trị, bệnh đã được khống
chế hoàn toàn sau 2 tháng.
Mục tiêu nghiên cứu: báo cáo một ổ dịch sốt rét ở xã
Hiệp Phước, huyện
Nhà Bè từ tháng 7 đến tháng 9 năm 2011: chủng muỗi lưu hành,
chủng ký sinh trùng lưu hành,
số ca mắc và hiệu
quả của các biện
pháp chống dịch:
Uống thuốc kháng sốt rét, tẩm mùng và phun hóa chất tồn lưu
diệt muỗi, diệt
các ổ bọ gậy.
Vật liệu và Phương pháp: Các bệnh nhân sốt rét được báo về từ các Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới,
Bệnh viện Nhi đồng
1, Bệnh viện
Nhi đồng 2, được
nhân viên Y tế dự
phòng đến nơi cư trú để lấy
máu của 200 hộ
dân xung quanh, khảo sát nhanh bằng test nhanh tìm kháng nguyên KST sốt
rét Plasmodium falciparum và Plasmodium vivax, đồng
thời để phết
lam tìm ký sinh trùng sốt rét. Các bệnh nhân được phát hiện bệnh và các bệnh nhân xuất viện
trở về từ
các bệnh viện,
được cho uống thuốc
Chloroquin, sau đó là Primaquin đủ 15 ngày để tránh tái phát và tránh lây cho cộng
đồng. Sau đó chúng tôi tiến
hành phun thuốc diệt
muỗi toàn bộ ấp,
tẩm mùng cho toàn bộ dân cư trong vùng dịch.
Sau 4 tuần can thiệp, đánh giá tình hình dịch
bệnh.
Kết quả: từ ngày 4/7/2011 đến ngày 19/9/2011, đã phát hiện
54 ca sốt rét, tất cả đều nhiễm
Plasmodium vivax, tập trung ở ấp 1: 42 ca, ấp 2: 01 ca, ấp 3: 12 ca, ấp 4: 02 ca, không có ca tử vong. Tất cả
các bệnh nhân được uống chloroquin 3 ngày, sau đó
là primaquin đủ 14 ngày. Đồng thời sử dụng biện pháp tẩm
mùng, phun thuốc diệt
muỗi tồn lưu
trong nhà, diệt bọ gậy. Từ ngày 19/09/2011 đến 21/10/2011 không phát hiện
ca mắc mới tại xã hiệp phước.
Đến ngày 24/10/2011, y tế dự phòng đã công bố kiểm soát được sốt
rét tại xã Hiệp
phước - Nhà Bè.
Kết luận: Bệnh sốt
rét tại TP Hồ
Chí Minh là bệnh dịch
lưu hành ở
vùng có muỗi Anophles, do nhiều biến động
về dân cư, người
mang mầm bệnh
sốt rét từ nơi
khác đến
đã lây truyền cho dân địa phương qua muỗi trung gian truyền bệnh Anopheles. Trường hợp sốt rét ở xã
Hiệp Phước là một ổ dịch điển
hình xuất hiện
trở lại sau nhiều năm vắng
bóng, các biện pháp can thiệp như uống
thuốc kháng sốt rét, phun muỗi diện rộng và tẩm
màn bằng hóa chất đã mang lai hiệu quả cao, dập tắt
hoàn toàn được ổ dịch trong vòng 2 tháng.
Background: There were malarial oubreak at Hiep phuoc ward,
Nhabe District, Hochinh city on July 2011, the parasite was Plasmodium vivax,
mosquitos vector was Anopheles epiropticus. This was the first time malarial oubreak happened in Hochiminh city after tens year’s absent.
We had resolved this outbreak by epidemiology
method and specific treatment, the outbreak was eliminated completely after 2
months.
Objective: We report the malarial outbreak at Hiep phuoc ward,
Nhabe District, Hochinh city on July 201: the transmited vector, type fo parasite, the total infection case, and
the effective of intervention methods: spraying chemics, impregnating the net,
killing mosquito larva, specific tretment
Material and methods: The malarial patients were informed from
children hospital 1 and 2, hospital for tropical diseases and other medical
units in Hochiminh city. The employees of Preventive medicine center (PMC) came
their houses to take blood samples of 200 household around, to detect parasite
by blood smear and quick test. The malarial patients were cured by Chloroquin
and primaquin in 15 days to prevent recurren cases and spread to community.
Then we sprayed chemics to kill mosquito and impregnating the net. After 4
weeks, we evaluated the outcome.
Outcome: From 4th july to 19th
September, we detected 54 cases of malarial infection, all were infected by
Plasmodium vivax, distributed in hamlet 1: 42 cases , hamlet 2:01 cases, hamlet
3: 12 cases, hamlet 4: 02 cases, no fatal case. All patients were treted by
Chloroquin and then primaquin until 14 days. We sprayed chemics to kill
mosquito and impregnating the net. From 19th September until 21th
October, we had not found any cases of malarial infection in Hiepphuoc
ward-Nhabe district.
Conclusion: Malarial outbreak in Hochiminh city was epidemiology, where there are main vector: Anopheles epiropticus. Since the migrant of people to Nhabe for working, malarial infection happened, because malarial patients from other place came. The intervention methods to control malarial outbreak were effectively, therefore we can cease the outbreak completely within 2 months.