Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 16(1):11. DOI
Lượt xem: 137 Lượt tải PDF: 3
Nhữ Thị Hoa, Nguyễn Hằng Giang*, Lê Thị Vân Trang*
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của giáo dục sức khỏe (GDSK) bằng
truyền thông trực tiếp (TTTT) kết hợp phát tờ bướm so với phát tờ bướm đơn thuần
trong phòng ngừa nhiễm giun kim ở trẻ mẫu giáo huyện Củ Chi, TP. HCM năm học
2008 - 2009.
Phương pháp: Thử nghiệm can thiệp cộng đồng có đối chứng được
tiến hành trên 1.576 phụ huynh (PH) có con học tại 6 trong 28 trường mẫu giáo
thuộc huyện Củ Chi, năm học 2008-2009 (chọn trường bằng rút thăm). Mẫu nghiên cứu
được chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm: nhóm A: GDSK bằng TTTT và phát tờ bướm, nhóm
B: phát tờ bướm đơn thuần. GDSK được nhắc lại bằng phát tờ bướm sau một tháng
và thư nhắc sau hai tháng kể từ lần GDSK đầu tiên. Sử dụng bảng câu hỏi để thu
thập thông tin hành chánh, kiến thức (KT) và thực hành (TH) của PH. Tỷ lệ KT,
TH được đánh giá trước và sau GDSK. Phân tích số liệu bằng Stata 10.0.
Kết quả: KT, TH đúng trước GDSK ở nhóm A đạt 53,31% và
48,18%; nhóm B đạt 63,13% và 49,38%. Sau 3 lần GDSK trong 2 tháng, KT chưa đúng
ở cả hai nhóm đều giảm với RR = 0,57 (0,45 – 0,70) ở nhóm A và 0,58 (0,44 –
0,78) ở nhóm B; TH sai giảm mạnh trong nhóm B, chỉ bằng 0,43 (0,31 – 0,58) so với
trước GDSK, nhóm A giảm ít hơn: RR = 0,74 (0,60 – 0,91). KT, TH đúng sau GDSK
có liên quan với nhau (OR = 1,89 (1,51 – 2,37)) và bị chi phối bởi KT, TH ban đầu,
phân hiệu của trẻ, nghề nghiệp và quan hệ của PH với trẻ (p<0,01). Tuy
nhiên, chưa chứng minh được mối liên quan giữa biện pháp GDSK với KT, TH
(p>0,05).
Kết luận & đề xuất: GDSK bằng phát tờ bướm hoặc TTTT đều đạt hiệu quả
trong việc nâng cao KT, TH về phòng ngừa nhiễm giun kim ở trẻ mẫu giáo huyện Củ
Chi. Phát tờ bướm dễ thực hiện, ít tốn kém, có thể được khuyến cáo áp dụng rộng
rãi cho cộng đồng và cần lập lại nhiều lần nhằm cung cấp và củng cố thông tin
đúng cho PH, góp phần giảm tỉ lệ bệnh.
Objective: to assess the effect of health education methods:
direct communication and flyers versus unique flyers on preventing enterobiasis
in kindergarten children in Cu Chi district, HCM City 2008 - 2009.
Subjects & method: this community intervention study was carried out
among 1576 parents of children belonging to 6 kindergartens that were randomly
selected from 28 kindergartens in Cu Chi district,
Results: The rates of correct knowledge and practice
before intervention are 53.31% and 48.18% in group A; 63.13% and 49.38% in
group B, respectively. After three times of health education in 2 months, the
rate of incorrect knowledge and practice decreased in both groups: RR = 0.57 (0.45
– 0.70) and 0.74 (0.60 – 0.91) in group A; RR = 0.58 (0.44 – 0.78) and 0.43(0.31
– 0.58) in group B. The rate of correct
knowledge and practice after intervention relates each other (OR =1.89(1.51 – 2.37)) and is influenced strongly by original cognition and
behavior, the
center or branch of school, career of parents and people who directly take care
of children (p <0.01). However, this study has not yet demonstrated the relationship between
health education methods and the rate of correct knowledge and practice
(p>0.05).
Conclusion & suggestion: Using flyers or direct communication improved equally on knowledge and practice of parents of kindergarten children in Cu Chi district. But the former is simplier and doesn’t require time or human resources, therefore, it is recommended for applying popularly to the community. It is also necessary to repeat health education in order to ameliorate knowledge and practice of parents, contributing to control of enterobiasis in kindergarten children.