HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner
Nghiên cứu Y Học

GIẢM ỐI TRONG HỘI CHỨNG TRUYỀN MÁU SONG THAI:KINH NGHIỆM BAN ĐẦU TỪ MỘT TRUNG TÂM CHẨN ĐOÁN TIỀN SẢN

AMNIOREDUCTION FOR TWIN-TO-TWIN TRANSFUSION SYNDROME TREATMENT: PRELIMINARY EXPERIENCE FROM A PRENATAL DIAGNOSIS UNIT

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2):39. DOI

Lượt xem: 152 Lượt tải PDF: 1

Tác giả

Trần Nhật Thăng *, Phạm Thị Xuân Trang*, Hà Tố Nguyên*,Bùi Thị Hồng Nga*,Trịnh Nhựt Thư Hương*,Trần Thúy Quyên*, Bùi Thanh Vâ

Tóm tắt

Đặt vấn đề: 10-15% song thai một bánh nhau gặp biến chứng hội chứng Truyền máu song thai. Khi không can thiệp, dự hậu chu sinh của những thai kỳ này rất xấu với tỷ lệ tử vong lên tới 80-100% và hơn 30% trẻ sống có tổn thương thần kinh. Tại các nước phát triển, dùng laser đốt thông nối mạch máu bánh nhau qua nội soi thai đang càng ngày trở nên ưu thế với tỷ lệ sống sót và tiên lượng thần kinh tốt hơn cho trẻ.

Mục tiêu nghiên cứu: đánh giá tính khả thi và an toàn của vai trò điều trị trì hoãn của Giảm ối trong Truyền máu song thai biểu hiện độ nhẹ-trung bình.

Phương pháp nghiên cứu:  báo cáo loạt ca.

Kết quả: Đơn vị Chẩn đoán tiền sản Bệnh viện Từ Dũ đã triển khai thử nghiệm Giảm ối trong truyền máu song thai từ 6 tháng cuối năm 2011 với tỷ lệ thành công (ít nhất một trẻ sống) đạt được 50% và không ghi nhận tai biến nào xảy ra.

Kết luận: Tính khả thi và giá trị của phương pháp này cần được đánh giá thêm, nhất là khi nội soi thai chưa được triển khai trong tương lai gần tại Việt Nam.

Abstract

Background: Twin-to-twin transfusion syndrome occurs in approximately 10-15% of all monochorionic pregnancies. Untreated, it is associated with very poor perinatal outcome in its natural history: mortality up to 80-100% and neurological sequelae encountered in 30% of live newborns. Fetoscopic laser ablation of placental vascular anastomoses is now the treatment of choice in developed countries, resulting in a higher survival rate and better long-term neurological prognosis.

Objectives: Efficacy and safet of a palliative intervention, amnioreduction, used conventionally in mild-moderate stage TTTS pregnancies.

Methods: We has initiated this treatment modality in the prenatal diagnosis unit of Tu Du hospital for 6 last months in 2011 and it resulted in an encouraged rate of 50% of live newborn (defined as at least one survivor) without any complications.

Conclusion: The feasibility and efficacy of this treatment need further investigations, especially in the current situation where fetoscopy has not yet applied in Viet Nam