Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 16(4):8. DOI
Lượt xem: 160 Lượt tải PDF: 1
Nguyễn Công Minh*
Mở đầu - Mục tiêu: U máu trẻ em là thuật ngữ dùng để chỉ bệnh lý mạch
máu lành tính, bao gồm tính đa dạng và phức tạp nhưng có chung hình ảnh mô học.
Dị dạng mạch máu thuộc dạng hỗn hợp phức tạp hơn và thường tồn tại đến tuổi trưởng
thành. Khi chưa xác định được bản chất, sang thương thường được gọi chung là u
mạch máu. Nghiên cứu này nhằm mục đích đúc kết những hình ảnh lâm sàng và hiệu
quả của phẫu thuật u máu và dị dạng mạch máu tại Bệnh viện Chợ Rẫy và Bệnh viện
Cấp cứu Trưng Vương trong điều kiện hiện nay của nước ta. Các phương thức điều
trị kết hợp không nằm trong mục tiêu nghiên cứu này.
Phương pháp nghiên cứu: Trong 6 năm từ 1/2006 đến 12/2010, tại hai trung
tâm Bệnh viện Chợ Rẫy và Bệnh viện Cấp cứu Trưng Vương chúng tôi có tất cả 554
bệnh nhân được chẩn đoán là u máu và dị dạng mạch máu có nhập viện (58% là nữ
và 42%, nam. Tuổi trung bình là 28,5). Trong số đó chỉ có 528 u mạch máu biểu
hiện ở ngoài da và chỉ có 67 bệnh nhân được phẫu thuật tại khoa Ngoại Lồng ngực-
Mạch máu của chúng tôi. Tất cả bệnh nhân được theo dõi trên 2 năm.
Kết quả: Có 67 trường hợp u mạch máu ở vùng da được phẫu
thuật: mổ lấy trọn các sang thương < 3 cm đơn độc cho kết quả tuyệt vời. Phẫu
thuật các sang thương nhiều chỗ, lan tỏa hoặc > 3 cm, kết quả không tốt.
Không có tử vong sau mổ. Biến chứng sau mổ chiếm 11,9% (8 bệnh nhân chảy máu
sau mổ và 1 phải đoạn chi). Theo dõi hơn 2 năm sau mổ, 18% tái phát, mà đại đa
số là các dị dạng mạch máu lan tỏa trong cơ.
Kết luận: Chỉ định
mổ u máu và dị dạng mạch máu ở người lớn tùy thuộc vào sang thương. Với sang
thương lan rộng hoặc nhiều chỗ phải cần đến siêu âm Doppler chẩn đoán, chụp cộng
hưởng cản từ hoặc CT scan. Với sang thương đơn độc và nhỏ hơn 3 cm, chỉ định phẫu
thuật cho kết quả tốt. Với sang thương lớn hơn 3 cm, ăn sâu trong cơ hoặc sang
thương lan tỏa, nên kết hợp với chích xơ, quang đông laser rồi mới phẫu thuật, sẽ
hiệu quả hơn.
Method: During 6 years (1/2005 – 1/2010, at two centers
(Cho Ray and Trung Vuong hospitals), we are 554 patients with hemangiomas and
vascular malformations that were admitted. In these patients: 528 cutaneous
lesions (42% males: 58%, females. The Mean age: 28.5); there are only 67
operated patients in our services. All patients were follow-up beetween more
than 2 years.
Results: On sixty eight operated cutaneous lesions: The
radical operation of the lesions under 3 cm, unique are perfect; The surgical
outcomes of the upper 3 cm, the multifocal or diffused lesions are worse. None
died. Postop-complications were 11.9%: 8
hemorrhage and 1 amputation postoperative. Eleven patients (16%) were residive
after 18 months follow-up, all of them are diffused lesions in the muscles.
Conclusion: Indication for operation of the hemangiomas and
vascular malformations in adult depend on the lesions of patients. With
expanded lesions it must be have Doppler ultrsoud (