Nghiên Cứu Y Học
HALOGEN SPOTLIGHT PHOTOTHERAPY VERSUS CONVENTIONAL BLUE-WHITE LIGHT PHOTOTHERPY IN NEONATAL HYPERBILIRUBINEMIA AT HUNG VUONG HOSPITAL"
Bấm tải bài viết
Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh,
10(1):76. DOI
Lượt xem: 181 Lượt tải PDF:
0
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Hồng, Lâm Thị Mỹ
Tóm tắt
Mục tiêu: So sánh QTLĐ (QTL điểm) và QTLQƯ(QTL qui ước) trong điều trị vàng da sơ sinh tăng bilirubin gián tiếp.
Thiết kế nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có chứng tại Khoa Sơ sinh Bệnh Viện (BV) Hùng Vương; Có 113 trẻ được nhận vào nghiên cứu, QTLĐ (55 trẻ), QTLQƯ (58 trẻ), có cùng bước sóng và cường độ chiếu. Thời gian rọi đèn 3giờ (G), nghỉ 1G để chăm sóc, bú mẹ.
Kết quả: Không có sự khác biệt giữa 2 nhóm về cân nặng, bilirbin khởi đầu, giới tính, bất đồng ABO, bệnh lý, cũng như ngày bắt đầu điều trị. Tuy nhiên nhóm QTLĐ có Hct hơi thấp hơn và truyền bilirubin nhiều hơn. Bilirubin trung bình (TB) giảm là 0.49 ± 1.72mg% so với 0.34±1.43mg% trong 12G ngày 1 (p=0.61); 1.84±2.55mg% so với 1.53±1.85mg% ở ngày 2 (p=0.46) và 3.4±2.03mg% so với 2.19 ± 2.26 mg% ở ngày 3(p=0.007). Nhìn chung bilirubin giảm 24G là: 2.27 ± 1.75mg% so với 1.7±1.42mg%. Thời gian điều trị TB là: 46.3 ± 14.12G so với 47.7±15.07G.
Kết luận: Hai nhóm QTL hiệu quả tương đương nhau trong việc giảm bilirubin. Tuy nhiên QTLĐ có giá thành cao hơn và ít dùng hơn QTLQƯ trong điều kiện của BV tỉnh ở VN.
Abstract
Objective: To compare Halogen spotlight PT (HPT) with Conventional PT(CPT) in neonatal indirect hyperbilirubinemia, in Vietnam-situation.
Study design: Randomized controlled trial study in one single center. 113 neonates who met PT criteria were randomized into two groups of PT; HPT (Atom) (n=55) vs CPT (n=58) of similar spectrum of wavelength and irradiances. The duration of PT: 3 hours, interrupt for 1 hour due to nursing care and breastfeeding.
Results: There were no significant difference between the 2 groups regard to weight, initial bilirubin, sex ratio, ABO incompatibility, pathology, initial day of therapy. However, the mean hematocrit were slightly lower and the intravenous perfusion of albumin were higher in HPT. The reduction of mean bilirubin were 0.49 ± 1.72mg% vs 0.34 ± 1.43 mg% in 12 hrs on day 1 of therapy (p=0.61); 1.84 ± 2.55mg% vs 1.53 ± 1.85 mg% on day 2 (p=0.46) and 3.40 ± 2.53mg% vs 2.19 ± 2.26 mg% on day 3 (p=0.007). Overall: The reduction of bilirubin: 2.27 ± 1.75 mg% /24hrs vs 1.7± 1.42mg% /24hrs. No difference in the reduction of bilirubin in 2 study groups with Anova repeated measurement analysis. Duration of PT were 46.3 ± 14.12 hrs vs 47.7 ± 15.07hrs (p=0.61). Conclusion: Both HPT and CPT are similar to reduce the bilirubin in neonatal indirect hyperbilirubinemia, that included into our study. However the HPT seems be more expensive and less useful than CPT in the provincial hospitals in Vietnam.