HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner
Nghiên Cứu Y Học

NỘI SOI MỀM TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ CÁC BỆNH LÝ ĐƯỜNG TIẾT NIỆU TRÊN TẠI BỆNH VIỆN BÌNH DÂN TRONG NĂM 2010

INITIAL USING FLEXIBLE URETERORENOSCOPY FOR DIAGNOSIS AND TREATMENT OF THE UPPER URINARY TRACT DISEASES IN 2010 AT BINH DAN HOSPITAL

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 15(3):24. DOI

Lượt xem: 187 Lượt tải PDF: 0

Tác giả

Phan Trường Bảo(1), Nguyễn Tuấn Vinh(2), Nguyễn Minh Quang(3), Vũ Lê Chuyên(4)

Tóm tắt

Mục tiêu: ngày nay, nội soi niệu quản thận ngược dòng với máy soi mềm càng mở rộng các chỉ định hơn nữa trong chẩn đoán và điều trị xâm hại tối thiểu cho nhiều bệnh lý khác nhau trên đường tiết niệu trên.Phương pháp và đối tượng nghiên cứu: trong một năm 2010, chúng tôi thực hiện được 23 trường hợp nội soi mềm NQ- thận, tại khoa Nội soi Niệu bệnh viện Bình Dân. Trong đó, 2 bệnh nhân bị tiểu máu đại thể chưa rõ nguyên nhân từ đường tiết niệu trên. 21 bệnh nhân còn lại có sỏi thận và sỏi niệu quản kết hợp. Tất cả các TH sỏi niệu đều không phải là lần đầu điều trị ngoại khoa sỏi niệu cho BN. Tất cả các TH nội soi mềm, chúng tôi đều sử dụng ống thông 9 Fr trong NQ làm giá đỡ máy soi mềm.Kết quả: 23 BN, gồm 11 nam, 12 nữ. Tuổi trung bình là: 48,33 ± 11,45 (thấp nhất 30, cao nhất 71 tuổi). Thời gian thực hiện nội soi là: 73,33 ± 21,56 phút. Kích thước sỏi trung bình là 11,05 ± 2,90 mm (từ 6-14mm). Trong 21 TH sỏi niệu, chúng tôi có 9 TH sử dụng laser Holmium tán vỡ sỏi (42,86%) và 11 TH (52,38%) dùng rọ bắt sỏi Dormia hình lê lôi các mảnh sỏi ra ngoài. Thời điểm tái khám BN (thường là từ 4 tuần sau nội soi), chúng tôi ghi nhận tỉ lệ sạch sỏi sau 1 đợt NS mềm là 64,71%, còn tỉ lệ sót sỏi (≥ 4mm) sau 1 đợt NS mềm là 35,29 %. Ngoài ra, với 13 TH có sỏi thận đài dưới, tỉ lệ điều trị sỏi thành công là 60%. Chúng tôi ghi nhận không có TH nào có biến chúng hậu phẫu nặng nề.Kết luận: Nội soi mềm niệu quản thận ngược dòng là một phương pháp tiên tiến, giảm thiểu sang chấn trong chẩn đoán cũng như trong điều trị các bệnh lý đường tiết niệu trên. Khi NS mềm NQ thận kết hợp với laser Holmium, trở thành một kỹ thuật tán sỏi hiệu quả cao và an toàn cho các sỏi NQ lưng cao, cũng như các sỏi trong thận.

Abstract

Purpose: Retrograde flexible ureterorenoscopy has recently been broadened indications for use from diagnostic to a variety of complex minimally invasive therapy.Materials and methods: a total of 23 patients included 2 cases with idiopathic macrohematuria and 21 patients with ureteral and renal calculi participated in the study during a year 2010 at Binh Dan hospital. We have performed the ureteral access sheath for all of patients before retrograde flexible URS. Results: The average age per patient is 48.33 ± 11.45 (range: 30- 71) and the mean time for the procedure is 73.33 ± 21.56 min. In all cases the stones could be reached after a single flexible URS procedure, the mean stone size per patient of 11.05 ± 2.90 mm (range: 6- 14); 9 cases the stones (42.86%) were fragmented using Holmium YAG laser and 11 cases (52.38%) the stones could be extracted using Dormia minimum baskets. Patients (64.71%) were completely stone-free at follow- up and 35.29 % had residual fragments (≥ 4mm). Lower pole renal calculi presented in 13 patients and can also be treated with a success rate of approximately 60%. There were no major complications.Conclusions: Retrograde flexible URS combined with Holmium laser is an effective, reproducible and minimally traumatic diagnostic and therapeutic technique perfectly adapted to disease of the upper urinary tract.