HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner
PHỤ SẢN

XỬ TRÍ ỐI VỠ NON TRÊN THAI NON THÁNG

MANAGEMENT OF PRETERM RUPTURE OF MEMBRANES (PPROM)

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 10(1):122. DOI

Lượt xem: 119 Lượt tải PDF: 1

Tác giả

Nguyễn Duy Tài, Trần Sơn Thạch

Tóm tắt

Xử trí ối vỡ non trên thai non tháng còn chưa thống nhất dù biến chứng này làm gia tăng bệnh suất và tử suất của cả thai phụ và thai nhi. Nghiên cứu tiền cứu mô tả được tiến hành từ tháng 1 đến tháng 12/2004 tại khoa Sản bệnh BV Hùng Vương để đánh giá hiệu quả và an toàn của điều trị kéo dài thai kỳ cho 185 bệnh nhân ối vỡ non có tuổi thai từ 28 đến 37 tuần. Tất cả bệnh nhân tham gia nghiên cứu tuân thủ phác đồ điều trị hiện tại của bệnh viện bao gồm nằm nghĩ, kháng sinh, corticoid và theo dõi sát dấu hiệu nhiễm trùng. Thông tin về điều trị và kết cục thai kỳ được phân tích. Tuổi thai trung bình vào khoảng 33,7±2,4 tuần với thời gian điều trị kéo dài trung bình 10 ngày, trong đó 100% được sử dụng kháng sinh. Cân nặng trung bình lúc sanh đạt khoảng 2700g với 1/3 số bệnh nhân được sanh mổ. Có 11,4% bé sơ sinh bị nhiễm trùng và 9,2% bé tử vong sau sanh. Điều trị kéo dài thai kỳ có thể là lựa chọn cho các thai phụ ối vỡ non và thai non tháng có đủ điều kiện kéo dài thai kỳ với phác đồ theo dõi tích cực, trong đó quan trọng nhất là dấu hiệu nhiễm trùng. Cần thêm những nghiên cứu đánh giá về khả năng điều trị ngoại trú khi tình trạng ổn định và nghiên cứu đánh giá các biến chứng lâu dài.

Abstract

Management of PPROM remains controversial, despite the fact that it substantially increases maternal and neonatal morbidity/mortality. A prospective descriptive study was carried out from January to December 2004 at a tertiary O&G hospital in Vietnam to evaluate the effectiveness and safety of expectant management for 185 PPROM with gestational age between 28 to 37 weeks. All study subjects critically followed the treatment protocol, including bed rest, antibiotics, corticoid and close monitoring, especially for infection. Data on treatment and pregnancy outcomes were analyzed. Average gestational age was 33.7±2.4 weeks with treatment prolongation of 10 days. All subjects received prophylactic antibiotics. Newborn weight was 2,700gs, in which a third was abdominally delivered. Neonatal infection and deaths were identified in 11.4% and 9.2%, respectively. Expectant management would be a method of choice for PPROM under appropriate condition in the current context of the tertiary O&G hospital in Vietnam, given that the standardized treatment and monitoring protocol was critically complied. Further studies for treatment after hospitalization and for long-term morbidity would be warranted.