HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner
Nghiên cứu

VAI TRÒ SINH THIẾT XUYÊN THÀNH NGỰC TRONG CHẨN ĐOÁN CÁC KHỐI U TRONG LỒNG NGỰC

ROLE OF TRANS-THORACIC WALL BIOPSY IN HISTOLOGICAL DIAGNOSIS OF THE INTRATHORACIC TUMORS

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 13(1):104. DOI

Lượt xem: 161 Lượt tải PDF: 2

Tác giả

Đồng Đức Hưng, Nguyễn Hoài Nam

Tóm tắt

Mục tiêu nghiên cứu: Xác định hiệu quả của sinh thiết xuyên thành ngực trong chẩn đoán khối u trong lồng ngực (phổi và trung thất). Mức độ an toàn và số lần chọc sinh thiết. Vai trò của siêu âm hướng dẫn. Khả năng phân biệt chẩn đoán bản chất type mô học qua đánh giá độ nhạy, độ chuyên và các cải tiến kỹ thuật phù hợp với điều kiện của nền Y học Việt Nam hiện nay. 
Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu: Tiền cứu, mô tả cắt ngang, không đối chứng. Trong hai năm từ 2005-2006. Bệnh nhân có khối u trong lồng ngực chưa rỏ chẩn đoán bản chất và không thể chẩn đoán bản chất bằng những phương pháp khác về mặt mô học, hoặc đã có kết quả sinh thiết nội soi phế quản được trả lời lành tính, nhưng trên lâm sàng và hình ảnh học gợi ý ác tính. 
Kết quả: Từ tháng 08/2004 đến tháng 08/2006, chúng tôi đã tiến hành sinh thiết xuyên thành ngực bằng kim để xác định chẩn đoán bản chất giải phẫu bệnh cho 31 bệnh nhân được phát hiện có khối u trong lồng ngực. Bao gồm u phổi và u trung thất ở cả hai trung tâm: Bệnh viện Chợ Rẫy và Bệnh Viện Đại Học Y Dược. Trong đó có 6 trường hợp u trung thất và 25 trường hợp u phổi. 
Kết luận: Phương pháp sinh thiết xuyên thành ngực được thực hiện tương đối dể dàng, thao tác không khó khăn, hiệu quả cao và có tính ứng dụng trong thực tế. Siêu âm Doppler dẫn đường có một vai trò hết sức quan trọng để tiến hành thành công thủ thuật.

Abstract

Objectives: To identify the effectiveness of the trans-thoracic wall biopsy in histological diagnosis of intrathoracic tumors (lung and mediastinum). The safety and the times of biopsy. Role of sonography guide. The possibility to diagnose the histological characteristics through evaluating the sensitivity and speciality, and the technical modifications appropriate with the Vietnamese current medicine.
 Methods: Cross-sectional perspective study without control group. In two years from 2004 - 2006. Those patients who have intrathoracic tumors of unknown histological types which can not be diagnosed with other biopsy methods, or those having normal (benign) histological results from endobronchioscopy biopsy but having malignant-suggesting clinical and imaging features. 
Results: From August 2004 to August 2006, we performed 31 cases of trans-thoracic wall biopsy with needle for patients with intrathoracic tumors, including bronchial and mediastinal tumors in two center: Cho Ray hospital and Medical University hospital. 06 cases were bronchial tumors and 25 cases were mediastinal tumors. 
Conclusion: Trans-thoracic wall biopsy is a procedure that is relatively easy to do, but has high diagnostic effectiveness and practical application. Sonography guide plays an important role to successfully perform this procedure.