Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 21(6):61. DOI
Lượt xem: 195 Lượt tải PDF: 1
Nguyễn Văn Ân*, Trần Vĩnh Hưng*, Phạm Hữu Đoàn*, Ngô Đại Hải*, Jennifer MB José**
Mục tiêu: Nhằm đánh giá những kết quả ban đầu của phẫu thuật nội soi hỗ
trợ bằng robot (gọi tắt là PTNS robot) cố định âm đạo vào mỏm nhô để
điều trị sa sinh dục nặng ở phụ nữ tại BV Bình Dân
Bệnh nhân & phương pháp: Tiểu chuẩn chọn bệnh là các trường hợp sa
sinh dục nữ độ 3 -4 hoặc độ 2 có triệu chứng làm ảnh hưởng chất
lượng sống. Loại máy robot được dùng là DaVinci thế hệ Si. Tổng công
5 trocars được sử dụng để thực hiện nội soi ổ bụng, gồm 4 trocars
của máy robot DaVinci và 1 trocar của PTNS tiêu chuẩn dành cho người
phụ mổ. Phương pháp mổ là phẫu thuật cố định âm đạo vào mỏm nhô
tiêu chuẩn.
Kết quả: 3 phụ nữ tuổi 55, 59 và 65, đều bị sa sinh dục nặng có triệu
chứng, đã đươc thực hiện PTNS robot cố định âm đạo vào mỏm nhô. 2
trường hợp là sa tử cung, trường hợp còn lại là sa mỏm cụt âm đạo.
BMI lần lượt là 24,2; 31 và 33. Trong 2 trường hợp sa tử cung, 1 được
cắt tử cung trên cổ tử cung trong lúc mổ. Chúng tôi dùng loại mesh
PVDF (Dynamesh®, Reliv, Germany) cho 2 bệnh nhân và mesh polypropylene
(Surgimesh®, Aspides, France) cho trường hợp còn lại. Cả 3 trường hợp
đều được thực hiện thành công. Thời gian mổ lần lượt là 275, 240 và
180 phút. Không có tai biến trong mổ. Lượng máu mất trong mổ ít ~ 50 –
100 ml. Hậu phẫu diễn tiến tốt và cả 3 trường hợp xuất viện sau 3 –
5 ngày. Theo dõi sau mổ 3 tháng: cả 3 trường hợp đều hết bị sa sinh
dục, vết mổ lành tốt không bị nhiễm trùng. 1 trường hợp than đau
vùng đáy chậu, phải điều trị kháng viêm và giảm đau 2 tuần . 1
trường hợp bị tiểu không kiểm soát gắng sức, phải phẫu thuật TOT sau
2 tháng.
Kết luận: Những kết quả ban đầu cho thấy PTNS robot cố định âm đạo vào mỏm
nhô là an toàn và hiệu quả. Các biến chứng sau mổ nhẹ và dễ khắc
phục. Sự phục hồi giải phẫu của tình trạng sa sinh dục rất tốt. Tuy
nhiên, cần theo dõi lâu hơn và số lượng bệnh nhân nhiều hơn để có kết
luận đúng mức.
Từ khóa: Sa tạng chậu; Robot; Cố định âm đạo vào mỏm nhô
Objectives: To assess our initial results of Robotic-assisted
Laparoscopic Sacrocolpopexy (RLSC) for treatment of severe pelvic organ
prolapse (POP) at Binh Dan hospital, Viet Nam.
Materials & Methods: Women with grade 3-4 genitourinary prolapse or
symptomatic grade 2 of the ICS classification were chosen. A da Vinci Surgical
System (Intuitive Surgical, Sunnyvale, CA, USA) in a four-arm configuration (4
robotic trocars) and 1 conventional laparoscopic 10mm trocar were used.
Standard techniques of sacral colpopexy were performed.
Results: 3 women, 55, 59 and 65 years old, suffered from
severe POP were consented for RLSC. 2 patients were uterus prolapse; the last
one was vaginal vault prolapse. BMI were 24.2, 31 and 33. Of the 2 patients
with uterus prolapse, 1 was performed supracervical hysterectomy before doing
sacral colpopexy. We used mesh PVDF (Dynamesh®, Reliv, Germany) for 2 patients
and mesh polypropylene (Surgimesh®, Aspides, France) for the last one.
The operation time was 275,
240 and 180 minutes. The operative blood loss was ~ 50–100 mL. The time of
hospital stay was 3 – 5 days. No intra-operative complication was recognized.
Not any case had to convert to open surgery. The mean follow-up time was 3
months: all of three cases have very good anatomic outcome with stage 0 of
POP-Q system. About post-operative complications: 1 patient complained regional
pain at posterior wall of vagina, which was treated by analgesics during 2
weeks, 1 patient suffered from de novo stress urinary incontinence, which was
resolved by TOT procedure after 2 month.
Conclusion: Our early results show that RLSC is safe and
efficacious, the complications are minor and the anatomical outcomes are satisfactory.
However, long-term follow-up are needed.
Key words: Pelvic organs prolapse; Robot; Sacrocolpopexy