Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 21(6):91. DOI
Lượt xem: 178 Lượt tải PDF: 2
Trần Minh Bảo Luân*, Nguyễn Hoài Nam*, Nguyễn Trung Tín**, Trần Quyết Tiến*
Đặt vấn đề: gần đây, phẫu
thuật nội soi lồng ngực cắt thùy phổi và nạo hạch trong điều trị ung thư phồi
cho thấy nhiều ưu điểm và dần được xem là kỹ thuật tiêu chuẩn. Chúng tôi thực
hiện nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả 5 năm của phẫu thuật nội soi lồng ngực
trong điều trị ung thư phổi.
Phương pháp nghiên cứu: tiền
cứu mô tả dọc, không nhóm chứng.
Kết quả nghiên cứu: 109 bệnh
nhân ung thư phổi được điều trị bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt thùy phổi
kèm nạo hạch từ 01/01/2012 đến 31/12/2016. Thời gian sống thêm toàn bộ trung
bình 46,9 ± 1,9 tháng (13 – 60 tháng); tỷ lệ sống thêm toàn bộ 100% trong 1 năm
đầu; sau 2 năm 85,9%, sau 3 năm 65,3% và sống thêm toàn bộ 5 năm 55,9%. Giai đoạn
ung thư phổi sau phẫu thuật là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến thời gian sống thêm
(P=0,001): thời gian sống thêm 100% trong 1 năm cho tất cả các giai đoạn; thời
gian sống thêm 3 năm của giai đoạn IA, IB, IIA và IIIA tương ứng là 94,1%,
89,8%, 51,1% và 31,5%; thời gian sống thêm 5 năm giai đoạn IA, IB, IIA và IIIA
tương ứng là 85,6%, 89,8%, 34% và 23,6%. Ngoài ra, phẫu thuật nạo hạch triệt căn,
số lượng hạch di căn, kích thước hạch, độ biệt hóa và kích thước khối u cũng là
những yếu tố tiên lượng độc lập.
Kết luận: Phẫu thuật nội
soi lồng ngực trong cắt thùy phổi và nạo hạch cho thấy kết quả 5 năm rất
khả quan, tương đương như phẫu thuật mở, nên được thay thế phẫu thuật mở ngực
trong điều trị ung thư phổi giai đoạn I, II và IIIA.
Từ khóa: phẫu thuật nội soi lồng ngực, cắt thùy phổi và nạo
hạch, ung thư phổi.
Introduction: Recently, VATS lobectomy and lymphadenectomy in the
treatment of lung cancer has been shown many advantages and to be gradually
considered to be standard technique. We conducted a study to evaluate the
5-year results of VATS in the treatment non smal cell lung cancer.
Method: prospective, longitudinal description, non-control
group.
Results: 109 patients with lung cancer were treated with
VATS lobectomy and lymphadenectomy from January 01, 2012 to December 31, 2016.
The median follow-up time was 30,6 ± 14,1 months (9 – 60 months), the mean time
of overall survival was 46.9 ± 1.9 months (13 - 60 months); 100% overall
survival rate in the first year; after 2 years 85.9%, after 3 years 65.3% and 5
years 55.9%. The postoperative stage of lung cancer was a significant factor
affecting overall survival (P = 0.001): the overall survival rate was 100% for
1 year for all stages; The three-year overall survivals of stage IA, IB, IIA
and IIIA were 94.1%, 89.8%, 51.1% and 31.5%, respectively. And 5-year overall
survival rate of Stage IA, IB, IIA and IIIA were respectively 85.6%, 89.8%, 34%
and 23.6%, respectively. In addition, radical lymphadenectomy,
the number of metastatic nodules, lymph node size, tumor differentiation, and
tumor size are also independent predictors.
Conclusion: VATS lobectomy and lymphadenectomy in the treatment
of lung cancer showed a good 5-year results, equivalent to open surgery, should
replace standard open surgery for stage I, II and IIIA lung cancer.
Keywords: Video-Assisted Thoracoscopic Surgery (VATS), Lobectomy
and Lymphadenectomy, Lung cancer.