HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner

ĐÁNH GIÁ CHỨC NĂNG TRÍ TUỆ Ở TRẺ BỊ ĐỘNG KINH

ESTIMATE INTELLECTUAL FUNCTION IN CHILDREN WITH EPILEPSY

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 22(4):315. DOI

Lượt xem: 149 Lượt tải PDF: 1

Tác giả

Lê Thị Khánh Vân*, Hoàng Ngọc Triệu*

Tóm tắt

Mục tiêu: Khảo sát chỉ số trí tuệ ở trẻ động kinh trước tuổi đi học. Phân tích mối liên hệ giữa các yếu tố nhân trắc học và các yếu tố liên quan bệnh động kinh đến chức năng trí tuệ ở trẻ động kinh.

Phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang mô tả trên 64 trẻ được chẩn đoán động kinh, 30 - 91 tháng tuổi, không có chậm phát triển tâm thần vận động, không có bệnh lí não, sử dụng ≤ 2 thuốc chống động kinh, làm trắc nghiệm trí tuệ Wechsler cho trẻ trước tuổi đi học.

Kết quả: 64 trẻ động kinh được đánh giá và thu thập số liệu. 50 trẻ (78,1%) từ 48 - 91 tháng tuổi, 14 trẻ (48,4%) từ 30 – 47 tháng tuổi; 33 trẻ nam (51,6%) và 31 trẻ nữ (48,4%); 36 trẻ (56,3%) cư trú ở Hồ Chí Minh và 28 trẻ (43,7%) cư trú tỉnh khác; 34 người chăm sóc chính (53,1%) có trình độ học vấn hết lớp 12, 16 trẻ (25%) có trình độ học vấn người chăm sóc chính dưới lớp 12, 14 trẻ (21,9%) có người chăm sóc chính trình độ  đại học. Tuổi khởi phát bệnh thấp nhất 5 tháng, cao nhất là 81 tháng và trung vị là 18 tháng; thời gian động kinh thấp nhất là 4 tháng, cao nhất là 75 tháng, trung vị là 39 tháng; tần suất cơn trong 6 tháng thấp nhất là 0 cơn, cao nhất là 20 cơn, trung vị là 0 cơn; 55 trẻ (85,9%) có kiểu cơn toàn thể, 7 trẻ (10,9%) kiểu cơn cục bộ, 2 trẻ (3,2%) cơn động kinh không phân loại được; 62 trẻ (96,9%) đơn trị liệu, 2 trẻ (3,1%) dùng 2 thuốc chống động kinh; 62 trẻ (96,9%) có điện não dạng động kinh, 2 trẻ (3,1%) điện não không có dạng động kinh. IQ hiểu bằng lời, IQ tư duy tri giác, IQ lập luận trôi chảy, IQ trí nhớ công việc, IQ tốc độ xử lí, IQ tổng hợp trung bình lần lượt: 82,25; 83,69; 77,90; 89,48; 84,02; 80,89.Giới tính,trình độ học vấn người chăm sóc chính,tuổi khởi phát động kinh, tần suất cơn, số thuốc chống động kinh đang dùng,dạng điện não, kiểu cơn động kinh không ảnh hưởng đến IQ trẻ. IQ thành phần tốc độ xử líở nhóm trẻ cư trú ở tỉnh khác cao hơn nhóm trẻ cư trú ở Hồ Chí Minh. IQ hiểu bằng lời, IQ tổng hợp ở nhóm trẻ tuổi 30- 47 tháng cao hơn nhóm trẻ từ 48 - 91 tháng. Thời gian động kinh ảnh hưởng nhiều đến trí tuệ đặc biệt là thành phần hiểu bằng lời.

Kết luận:Trẻ động kinh có IQ tổng hợp trung bình đa số dưới mức bình thường chiếm tỉ lệ 51,56%. Cần quan tâm nhiều hơn đến ảnh hưởng của động kinh lên trí tuệ và chất lượng cuộc sống trẻ động kinh.

Từ khoá:Động kinh, chỉ số trí tuệ, trắc nghiệm trí tuệ Wechsler cho trẻ trước tuổi đi học.

Abstract

Objective: Evaluate Intelligence Quotient (IQ) in preschool children. Analyze the relationship between demographic factors and epilepsy-related factors in children with epilepsy.

Methods: Cross-sectional study of 64 children who are diagnosed epilepsy, 30 to 91 months of age, no retardation, no encephalopathy, use maximum of two anti-epileptic drugs. Using Wechsler Preschool and Primary Scale of Intelligence to evaluate IQ.

Results: 64 patients were estimated in this study. 50 patients (78.1%) have age from 48 to 91 months, 14 patients (48.4%) from 30 to 47 months; 33 boys (51.6%) and 31 girls (48.4%); 36 patients (56.3%) have lived in Ho Chi Minh city and 28 patients (43.7%) have lived in other provinces; 34 patients (53.1%) have the caregivers who finished highschool programe, 16 patients (25%) have the caregivers whose educational level  is under highschool, 14 patients (21.9%) have the caregivers who graduated university. The mínimum age of onset epilepsy is 5 months, máximum age of onset is 81 months and the medium is 18 months; the minimum duration of epilepsy is  4 months, the maximum duration of epilepsy is 75 months, the medium duration of epilepsy is 39 months; the minimum frequency of seizure in 6 months is 0, the maximum frequency of seizure in 6 months is 20 and the médium is 0; 55 patients (85.9%) have the generalized seizure , 7 patient (10.9%) have the partial seizure and 2 patients (3.2%) have unclassified seizure; 62 patients (96.9%) have used monotherapy, 2 patients (3.1%) have used 2 anti-epileptic drugs; 62 patients (96.9%) have epileptic form of electroencephalogram, 2 patient (3.1%) have no epileptic form of electroencephalogram. Verbal comprehension IQ, perceptual organization IQ, fluid reasoning IQ, working memory IQ, processing speed IQ, full scale IQ average of 82.25; 83.69; 77.90; 89.48; 84.02; 80.89. Gender, education level of the caregiver, age of onset of epilepsy, frequency of seizures, number of anti-epileptic drugs, type of electroencephalogram, type of seizure did not affect IQ. Processing speed IQ of children who live in other provinces is higher than the group of children who live in Ho Chi Minh. Verbal comprehension IQ and full scale IQ in children aged from 30to 47 months is higher than that of children from 48 to 91 months. Epilepsy duration affects significantly inintelligence especially the verbal comprehension component.

Conclusion: 51.56% children with epilepsy have the full scale IQ score which under the low average. We should be concerned in the effects of epilepsy on intelligence and the quality of life.

Keywords: Epilepsy, Intelligence Quotient, Wechsler Preschool and Primary Scale of Intelligence.