HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NGẮN HẠN VÀ TRUNG HẠN ĐIỀU TRỊ ĐẶT STENT ỐNG ĐỘNG MẠCH Ở BỆNH NHÂN TIM BẨM SINH PHỤ THUỘC ỐNG ĐỘNG MẠCH

INITIAL RESULTS AND MEDIUM –TERM FOLLOW UP OF STENT IMPLANTATION OF PATEN DUCTUS ARTERIOSUS IN DUCT DEPENDENT PULMONARY CIRCULATION

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 22(4):290. DOI

Lượt xem: 220 Lượt tải PDF: 2

Tác giả

Nguyễn Minh Trí Việt*, Tăng Chí Thượng **Hoàng Quốc Tưởng*

Tóm tắt

Mục tiêu: Nhận xét kết quả tức thời và theo dõi trung hạn sau stent ống động mạch.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả.

Kết quả: Có 55 bệnh nhân tim bẩm sinh có tuần hoàn phổi phụ thuộc ống động mạch được tiến hành đặt stent. Tuổi trung bình: 8 ngày. Cân nặng trung bình 3kg. Có hơn 50% thuộc nhóm bệnh lý bất thường cấu trúc vách nón với thông liên thất kèm thiểu sản đường ra thất phải (TOF, PA – IVS), ¼ số trường hợp thuộc nhóm bệnh lý thiểu sản tim phải và 13 tim bẩm sinh tím phức tạp khác sẽ phẫu thuật theo hướng tim 1 thất. Tỷ lệ đặt thành công stent ống động mạch 98% (54/55), 1 trường hợp thất bại được Stent RVOT.SpO2 trung vị tăng từ 66% lên 93%, PaO2 trung vị tăng từ 33 mmHg lên 58 mmHg. Sau can thiệp, 34 bệnh nhân trên hình ảnh chụp mạch máu cải thiện đáng kể kích thước cũng như Zcore 2 nhánh động mạch phổi phải và trái từ 4,5mm và 4,0mm tăng lên 7,2mm và 5,7 mm. Trung bình chỉ số NAKATA trước can thiệp là 138,9 ± 2,3 sau can thiệp là 205,54 ± 54,1. Có 13% bệnh nhân cần can thiệp lại sớm lúc nằm viện. Trong đó tắc stent sớm do huyết khối chiếm 4%, lưu lượng không đều qua 2 nhánh ĐMP chiếm 5,5%. 2 trường hợp tử vong (1 nhiễm khuẩn nặng, 1 tử vong trể sau phẫu thuật sữa chữa cấu trúc tim). 1 trường hợp trôi stent (gắp thành công và đặt stent khác). Đa số trường hợp cần can thiệp lại một thời gian sau đó. 14/36 trường hợp có tuần hoàn 2 thất được can thiệp hoặc phẫu thuật sữa chữa hoàn toàn. 8/17 trường hợp tim bẩm sinh phức tạp kiểu tuần hoàn 1 thất đã đươc phẫu thuât Glenn. 31 bệnh nhân đang theo dõi để chuẩn bị can thiệp hoặc phẫu thuật tiếp.

Kết luận: Stent ống động mạch là 1 phương pháp hiệu quả, khả thi và tương đối an toàn cho trẻ sơ sinh với bệnh tim bẩm sinh có tuần hoàn phổi phụ thuộc ống động mạch, có thể thay thế cho phẫu thuật tạo shunt chủ phổi.

Từ khóa: Còn ống động mạch, stent ống động mạch, tuần hoàn phổi phụ thuộc ống, động mạch phổi, shunt chủ phổi.

Abstract

Objective: To describle clinical features and the outcome after Stent implatation in the ductus arteriosus for pulmonary blood supply in congenital heart disease at Children’s Hospital 2 from January 2016 to April 2017.

Method: Case series report

Results: Ductal stenting was performed in 55 neonates and infants to maintain pulmonary blood supply in cyanotic congenital heart disease.Majority of patients were diagnosed TOF and PA IVS (50%), and right ventricular hypoplasia. Patent ductus arteriosus stenting was successful in 54 patients (98%) and failed in 1 patient (2%). SpO2 and PaO2 inproved from 66% and 33 mmHg to 93% and 58 mmHg, respectively. RPA and LPA diameter increased after cardiac catheterization. NAKATA index improved from 138.9 ± 2.3 to 205.54 ± 54.1. Seven patients (13%) were required reintervention soon including embolization (4%), unbalance two pulmonary branch blood flow (5.5%), stent stenosis (3.6%). One neonates died a few days ater the procedure due to sepsis and one patient died after bidirectional Glenn shunt. 14/36 patients with biventricular circulation were completed repair and 8/17 patients with univentricular circulation were operated Gleen shunt.

Conclusion: Patent ductus arteriosus stenting is an attractive alternative to surgical shunt in a majority of patients with duct-dependent circulation.

Key words: Patent ductus arteriosus, stent implatation, duct dependent pulmonary circulation.