HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner

ĐẶC ĐIỂM PHỎNG Ở TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1

CHARACTERISTICS OF PEDIATRIC BURN INJURY IN CHILDREN’S HOPITAL 1

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 22(4):284. DOI

Lượt xem: 293 Lượt tải PDF: 0

Tác giả

Nguyễn Công Tâm*, Phạm Hiếu Liêm**, Phạm Văn Quang**, Nguyễn Đức Tuấn***

Tóm tắt

Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị phỏng ở trẻ em tại bệnh viện Nhi Đồng 1, từ 01/2015- 12/2016.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang.

Kết quả:Trong thời gian từ 01/ 2015 đến 12/ 2016, chúng tôi có 179 ca phỏng được đưa vào nghiên cứu, thu được một số kết quả sau. Về dịch tễ: Độ tuổi thường bị phỏng tập trung nhiều từ 1 – 4 tuổi chiếm 65,9%, tỉ lệ nam (62,6%) bị phỏng nhiều hơn nữ, tình trạng dinh dưỡng đa phần là suy dinh dưỡng, chiếm 56,4%, khoảng thời gian mà bệnh nhi hay bị phỏng trong ngày là từ 17 giờ 00 đến 22 giờ 00 và từ 11 giờ 00 đến 13 giờ 00 chiếm 46,9% và 33%, đa phần nhập viện trước 24 giờ, chiếm 75,4%, nơi xảy ra phỏng chủ yếu là trong nhà, chiếm 89,4%, nguyên nhân gây phỏng hàng đầu là nhiệt ướt chiếm tỉ lệ 79,4%, phỏng đa phần do trẻ tự gây ra, chiếm 87,2%. Về lâm sàng: Trong các vùng trên cơ thể thì vùng thân là dễ bị bỏng nhất chiếm 49,7%; kế đến là vùng chi trên 45,8%; tiếp theo là vùng chi dưới 41,3%; vùng hô hấp là vùng ít khi bị phỏng, chiếm 1,7%, đa phần là bị phỏng độ II chiếm 81,6%, phỏng ở mức trung bình chiếm 44,1%, sốc phỏng và nhiểm khuẩn huyết chiếm 5,6%. Kết quả điều trị: 25,7% số ca phải điều trị phẫu thuật, thời gian nằm viện: 14,09 ± 15,97 ngày, tỷ lệ tử vong là 1,7%, tỉ lệ di chứng 0,6%

Kết luận: Phỏng là một tai nạn thường gặp ở trẻ, nhất là lứa tuổi mẫu giáo có thể dẫn đến tử vong hoặc gây nên các di chứng, sang chấn về tâm lý cho trẻ. Do đó, cần có kế hoạch tuyên truyền, giáo dục cho các bậc cha mẹ những biện pháp phòng tránh tai nạn phỏng ở trẻ, cũng như công tác xử trí ban đầu đúng để hạn chế các biến chứng về nhiễm khuẩn và các biến chứng khác có thể xảy ra.

Từ khóa: Phỏng, nhiễm khuẩn, cắt lọc, ghép da mỏng.

Abstract

Objective: Describe the epidemiological, clinical, subclinical and treatment characteristics of burn in children who were admitted at Children’s Hospital 1 from 01/2015 - 12/2016.

Methods: Cross-sectional study.

Results: During the period from 1/2015 to 12/2016, we had 179 burns included in the study. About Epidemiology: Age is often scaled from 1 to 4 years old accounting for 65.9%, the proportion of males (62.6%) burns more than women, the nutritional status is mostly malnourished, accounting for 56.4%, the time during which the child or the victim is burned during the day is from 5 pm to 10 pm and from 11 am to 1 pm accounting for 46.9% and 33%, mostly hospitalized before 24hours, accounts for 75.4% burns mainly in the home, accounting for 89.4%, the cause of burns leading to heat is 79.4%, mostly self-inflicted, accounting for 87.2%. Clinically: In the upper body, the body is the most prone to burns 49.7%; followed by over 45.8%; followed by expenditure of less than 41.3%; The respiratory region is rarely burned, accounting for 1.7%, most of them are accounted for 81.6%, the average level accounted for 44.1%, burns and septicemia accounted for 5.6 %. Treatment results: 25.7% of cases requiring surgical treatment, mean hospital stay: 14.09 ± 15.97, mortality rate was 1.7%, sequelae of 0.6%.

Conclusion: Burns are a common childhood accident, especially in kindergarten age can lead to death or cause sequelae, psychological trauma to children. Therefore, there should be a plan to educate and educate parents about infant burns, as well as proper initial management to minimize complications and complications.

Keyword: Burn, infection, cut filter, thin skin graft.