HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner

TỈ LỆ DỊ TẬT BẨM SINH CỐ BÀN CHÂN VÀ KẾT QUẢ CAN THIỆP PHỤC HỒI CHỨC NĂNG CÁC DỊ TẬT BÀN CHÂN HAY GẶP SAU 1 THÁNG

INCIDENCE OF NEWBORN’SFOOT DEFECTS AND ONE MONTH RESULT OF REHABILITION INTERVENTION FOOT DEFECTS

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 22(4):245. DOI

Lượt xem: 291 Lượt tải PDF: 3

Tác giả

Nguyễn Hoài Nam*, Nguyễn Duy Ánh**, Phạm Văn Minh*

Tóm tắt

Mục tiêu: Xác định dị tật cổ bàn chân bẩm sinh và kết quả can thiệp phục hồi chức năng các tật bàn chân sau 1 tháng.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu. tất cả các trẻ sơ sinh sống tại bệnh viện Phụ Sản Hà Nội trong thời gian tiến hành nghiên cứu được thăm khám lâm sàng sàng lọc phát hiện dị tật cổ bàn chân và các dị tật khác hệ vận động. Tất cả những dị tật đó điều có kế hoạch và chương trình can thiệp cụ thể, bàn chân khoèo, gót chân vẹo ngoài, bàn chân trước khép, ngón chân cong và ngón chồng ngón được can thiệp theo chương trình và tái khám mỗi tháng một lần tại bệnh viện phục hồi chức năng Hà Nội

Kết quả: Dị tật bàn chân trước khép gặp nhiều nhất với tỉ lệ 12,5/1000 trẻ, tiếp theo là dị tật gót chân vẹo ngoài và ngón chân cong với tỉ lệ 2,3/1000 trẻ, dị tật bàn chân khoèo, ngón chồng ngón có tỉ lệ là 1,1/1000 trẻ, dị tật sáu ngón chân, bốn ngón chân có tỉ lệ 0,6/1000 trẻ sơ sinh sống. Bàn chân trước khép linh động, bán linh động, gót chân vẹo ngoài, ngón chồng ngón, ngón chân cong trở về bình thường ngay sau can thiệp 1 tháng. Bàn chân khoèo cải thiện tốt sau can thiệp 1 tháng bằng phương pháp Ponseti, cần tiếp tục chỉnh sửa và theo dõi về sau.

Kết luận: Dị tật bàn chân trước khép gặp nhiều nhất, tiếp theo là gót chân vẹo ngoài, ngón chân cong và bàn chân khoèo. Bàn chân trước khép linh động, bán linh động, gót chân vẹo ngoài, ngón chồng ngón, ngón chân cong trở về bình thường ngay sau can thiệp 1 tháng. Bàn chân khoèo cải thiện tốt sau can thiệp 1 tháng bằng phương pháp Ponseti, cần tiếp tục chỉnh sửa và theo dõi về sau.

Từ khóa: Dị tật cổ bàn chân bẩm sinh.

Abstract

Objective: To determine the incidence of common congenital foot defects by physical examination and ultrasound, X-ray in new born in Ha Noi obstetrics and gynecology Hospital. Rehabilitation intervention for newborn foot defect.

Method: physical examination, ultrasound and X-ray of newborns in Ha Noi obstetrics and gynecology Hospital conducted a prospective study. All congenital foot defects of newborn were recorded and rehabilitation treated and followed in Ha Noi rehabilitation hospital.

Results: Metatarsus adductus is the most common foot defect in newborn in 8.5/1000 live births, following by calcaneovalgus and curly toe in 2.3/1000, talipes equninovarus and overlapping toes in 1.1/1000. Polydactyl, syndactyly in 0.6/1000.

Conclusions: in the present study, the metatarsus adductus was the most common foot defects, following by the calcaneovalgus, curly toe and the talipes equninovarus. flexibility Metatarsus adductus, calcaneovalgus, curly toes and overlapping toes change to normal after one month rehabilitation treatment, Club foot has good improvement.

Keywords: Metatarsus adductus, calcaneovalgus, talipes quninovagus, curly toe, clubfoot, polydactyl, syndactyly, overlapping toes, intervention