HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner

SO SÁNH KẾT QUẢ TRUNG HẠN CỦA PHƯƠNG PHÁP PONSETI GIỮA BÀN CHÂN KHOÈO VÔ CĂN VÀ BỆNH LÝ

COMPARISON OF MID-TERM RESULTS OF PONSETI MANAGEMENT FOR IDIOPATHIC AND NONIDIOPATHIC CONGENITAL CLUBFEET

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 22(4):228. DOI

Lượt xem: 362 Lượt tải PDF: 1

Tác giả

Võ Quang Đình Nam*, Trịnh Minh Giám*

Tóm tắt

Mục tiêu: Mặc dù phương pháp Ponseti được dùng ngày càng nhiều trong điều trị bàn chân khoèo, tỉ lệ tái phát và di chứng sau nắn chỉnh ban đầu vẫn còn cao. Nghiên cứu này so sánh kết quả nắn chỉnh ban đầu, tái phát, kết quả theo dõi sau cùng giữa bàn chân khoèo vô căn và bệnh lý.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu bao gồm 118 bàn chân khoèo bẩm sinh vô căn ở 82 bệnh nhi (nhóm 1) và 32 bàn chân khoèo bẩm sinh bệnh lý ở 21 bệnh nhi (nhóm 2), từ sơ sinh đến 12 tháng, được điều trị bằng phương pháp Ponseti và theo dõi tối thiểu 2 năm. Các bàn chân khoèo được phân loại, đánh giá khi bó bột, nắn chỉnh ban đầu và tái phát theo thang điểm. Kết quả theo dõi sau cùng được đánh giá theo phân loại Richards.

Kết quả: Số lần bột trung bình 4,6 (nhóm 1), và 5,3 (nhóm 2) với p = 0,056. Cắt gân gót qua da chiếm 82,2% (nhóm 1), and 90,6% (nhóm 2) với p = 0,249. Nắn chỉnh ban đầu thành công 96,6% (nhóm 1), và 81,3% (nhóm 2) với p = 0,019. Tái phát chiếm 7,0% (nhóm 1), và 26,9% (nhóm 2) với p = 0,003. Kết quả sau cùng tốt 76,3%, trung bình 22,0%, xấu 1,7% (nhóm 1), và tốt 21,9%, trung bình 46,9%, xấu 31,3% (nhóm 2) với p < 0,001. Trong nhóm 2 các bàn chân bệnh lý, cứng đa khớp thường gặp nhất (37,5%) và có nhiều bàn chân nặng nhất (rất nặng 33,3%), kết quả ban đầu kém nhất (thất bại 33,3%), tái phát nhiều nhất (50,0%), và kết quả sau cùng kém nhất (xấu 50,0%).

Kết luận: Phương pháp Ponseti đạt kết quả thành công với cả bàn chân khoèo bẩm sinh vô căn và bệnh lý. Tuy nhiên, tỉ lệ tái phát ở bàn chân khoèo bệnh lý cao và phần lớn các bàn chân này được phẫu thuật giải phóng phần mềm sau trong hoặc phẫu thuật bổ sung. Giải phóng sau trong cần chỉ định như điều trị thực thụ cho bàn chân cứng đa khớp rất nặng.

Từ khóa: Bàn chân khoèo vô căn, bàn chân khoèo bệnh lý, phương pháp Ponseti, cắt gân gót qua da, nẹp dang.

Abstract

Objective: Despite the high success rates of the Ponseti method for the treatment of idiopathic congenital clubfeet have been reported from centers around the world, the equinovarus deformities associated with neuromuscular conditions or other syndromes (nonidiopathic clubfeet) have rarely been discussed of nonoperative management. This study compares initial correction, relapses, latest follow-up mid-term results of Ponseti method between idiopathic and nonidiopathic congenital clubfeet.

Methods: 118 idiopathic congenital clubfeet (group 1) in 82 childrens and 32 nonidiopathic congenital clubfeet (group 2) in 21 childrens (newborn to 12months) are recruited for this study, following treatment with Ponseti method with a follow-up period of a minimum of two years. The clubfeet are then classified and evaluated during casting, of initial correction and for relapse according to Diméglio’s score. Next, the latest follow-up results are evaluated according to Richards’ classification.

Results: The average numbers of casts are 4.6 in group 1, and 5.3 in group 2 (p = 0.056). The percutaneous tendoachilles tenotomy is 82.2% in group 1, and 90.6% in group 2 (p = 0.249). The initial correction is successfully 96.6% in group 1, and 81.3% in group 2 (p = 0.019). The relapses are 7.0% in group 1, and 26.9% in group 2 (p = 0.003). The latest follow-up results are good 76.3%, fair 22.0%, poor 1.7% in group 1, and good 21.9%, fair 46.9%, poor 31.3% in group 2 (p < 0.001). In group 2 of nonidiopathic congenital clubfeet, arthrogryposis is the most popular cause (37.5%), and has the most severe clubfeet (very severe clubfeet 33.3%), the worst initial correction (failed 33.3%), the most frequent relapse (50.0%), and the worst latest follow-up result (poor result 50.0%).

Conclusion: Ponseti method is successfully applied to both idiopathic congenital clubfeet and nonidiopathic congenital clubfeet. However, the relapse rate of nonidiopathic congenital clubfeet is high and most of these relapsing clubfeet need to be operated by medioposterior release or additional procedures. The posteromedial release should be indicated as the definite management for the very severe clubfeet in the group of arthrogryposis.

Key words: Idiopathic congenital clubfoot, Nonidiopathic congenital clubfoot, Ponseti method, Percutaneous tendoachilles tenotomy, Foot-abduction brace.