Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 20(6):348. DOI
Lượt xem: 141 Lượt tải PDF: 0
Phan Quốc Hùng*, Trần Quyết Tiến
Mục tiêu: đánh giá kết quả
điều trị sớm và trung hạn tắc hẹp động mạch chủ-chậu mạn tính (THĐMCCMT) bằng
phẫu thuật (PT) kết hợp can thiệp nội mạch (CTNM) tại khoa Phẫu thuật Mạch máu,
bệnh viện Chợ Rẫy.
Đối tượng và phương pháp: 35
bệnh nhân (BN) THĐMCCMT được điều trị bằng PT kết hợp CTNM tại khoa Phẫu
thuật Mạch máu, bệnh viện Chợ Rẫy từ 2012 đến 2015. Phương pháp nghiên cứu là
tiền cứu mô tả hàng loạt ca. Đánh giá kết quả sớm bằng tỷ lệ thành công kỹ thuật,
tử vong chu phẫu, cải thiện triệu chứng lâm sàng, so sánh chỉ số huyết áp cổ
chân-cánh tay trước và sau can thiệp. Đánh giá kết quả trung hạn bằng tỷ suất
tái thông, bảo tồn chi.
Kết quả: 35 bệnh nhân có
tuổi trung bình là 72,8 tuổi. Nam giới chiếm 85,7%. Có 29 trường hợp (82,9%) thiếu
máu chi trầm trọng, 6 trường hợp (17,1%) đau cách hồi. 6 bệnh nhân (17,1%) TASC
A, B, 29 bệnh nhân (82,9%) TASC C, D. 17 trường hợp (48,6%) được can thiệp động
mạch (ĐM) chậu kết hợp cầu nối đùi-đùi, 13 trường hợp (37,1%) được can thiệp ĐM
chậu kết hợp bóc nội mạc ĐM đùi và 5 trường hợp (14,3%) được can thiệp ĐM chậu
kết hợp cầu nối đùi-khoeo. Tỷ lệ thành công về kỹ thuật là 100%. Tử vong chu phẫu
2 trường hợp (5,7%) do nhồi máu cơ tim. 32 bệnh nhân (91,4%) có cải thiện triệu
chứng lâm sàng. Chỉ số cổ chân-cánh tay trung bình cải thiện từ 0,34
± 0,21 trước mổ thành 0,65 ± 0,27 sau
mổ (p = 0,008). Thời gian theo dõi trung bình là 17,4 tháng. Tỷ suất tái thông
82,9%, tỷ suất bảo tồn chi 88,6%.
Kết luận: PT kết hợp CTNM điều
trị THĐMCCMT có kết quả tốt, ít xâm lấn, tỷ lệ thành công cao, tỷ lệ tử vong và
biến chứng thấp.
Từ khoá: tắc hẹp động mạch
chủ-chậu mạn tính, phẫu thuật kết hợp can thiệp nội mạch.
Objective: To evaluate
early and mid-term outcome of hybrid operation for chronic aortoiliac occlusive
disease at Vascular Surgery Department, Cho Ray Hospital.
Method: Prospective study.
From 2012 to 2015, 35 chronic aortoiliac occlusive disease’s patients were
treated by hybrid operation. Technical success, perioperative mortality,
clinical status improvement, ABI improvement was recorded for early outcome. Post-operative
follow-up at 1 month, 6 months, 12 months, yearly by clinical examination and
Doppler ultrasound. Mid-term results were evaluated by primary patency rate,
limb salvage rate.
Results: Mean patient age
72.8. Male sex is 85.7%. 29 patients (82.9%) had critical limb ischemia. 29
patients (82.9%) TASC C, D. Iliac artery intervention combined with fem-fem
bypass 48,6%, iliac artery intervention combined with femoral artery
endarterectomy 37,1%, iliac artery intervention combined with fem-pop bypass
14,3%. Technical success is 100 %. Perioperative mortality is 5.7%. Clinical
improvement rate is 91.4%. Mean ABI improved from 0.34
± 0.21 to 0.65 ± 0.27 (p=0.008). The
mean follow-up time was 17.4 months. Primary patency rate 82.9%, limb salvage
rate was 88.6%.
Conclusion: Hybrid
operation for treatment of chronic aortoiliac occlusive disease has good
outcome, high success rate, low morbidity and mortality rate.
Key words: chronic
aortoiliac occlusive disease, hybrid operation.