HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG CỦA THUYÊN TẮC PHỔI TẠI HỒI SỨC NGOẠI, BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH

THE CHARACTERISTICS OF PULMONARY EMBOLISM AT SURGICAL INTENSIVE CARE UNIT IN THE GIA DINH PEPOLE HOSPITAL

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 20(6):183. DOI

Lượt xem: 137 Lượt tải PDF: 1

Tác giả

Huỳnh Văn Bình*, Đinh Hữu Hào*, Đinh Nam Hải**

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Thuyên tắc phổi là một biến chứng nặng, nguy cơ đột tử cao. Bệnh nhân tại khoa Hồi sức ngoại có nguy cơ cao bị thuyên tắc tĩnh mạch sâu, đưa đến thuyên tắc phổi. Mục tiêu của nghiên cứu là khảo sát đặc điểm lâm sàng, và cận lâm sàng của thuyên tắc phổi tại khoa Hồi sức ngoại.

Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu quan sát, mô tả 25 trường hợp thuyên tắc phổi tại khoa Hồi sức ngoại, Bệnh viện Nhân Dân Gia Định từ tháng 12/2014 – 08/2016. Biến số nghiên cứu chính là triệu chứng lâm sàng chính để chẩn đoán thuyên tắc phổi. Biến số nghiên cứu phụ là sự liên quan giữa thời gian mắc bệnh với có áp dụng dự phòng, sự thay đổi các yếu tố gây tăng đông máu, và vị trí huyết khối gây thuyên tắc phổi.

Kết quả nghiên cứu: triệu chứng lâm sàng chính là thở nhanh (100%), các triệu chứng lâm sàng khác gồm: sốt (68%), nhịp tim nhanh (64%), giảm SpO2 (56%), và tụt huyết áp (32%). Bệnh nhân dự phòng thuyên tắc tĩnh mạch sâu bằng vớ áp lực liên tục có thời gian xảy ra thuyên tắc phổi muộn hơn bệnh nhân không dự phòng (17 ngày so với 9 ngày, p = 0,001). Các yếu tố gây tăng đông máu gồm: tăng fibrinogen (68%), tăng yếu tố VIII (44%), tăng yếu tố IX (32%), giảm antithrombin III (32%), giảm protein C (28%), và giảm protein S (12%). Vị trí huyết khối: tắc hoàn toàn (52%); tắc không hoàn toàn (48%); tắc một nhánh động mạch (40%), tắc nhiều nhánh (60%).

Kết luận: thở nhanh là triệu chứng lâm sàng chính gợi ý chẩn chẩn đoán thuyên tắc phổi, sau khi đã loại trừ các nguyên nhân có thể gây ra. Huyết khối gây tắc hoàn toàn và tắc nhiều nhánh động mạch phân thùy là chủ yếu.

Từ khóa: thuyên tắc phổi, thuyên tắc tĩnh mạch sâu, nguyên nhân đột tử ở bệnh nhân nặng, D-dimer, tình trạng tăng đông.

Abstract

Introduction: Pulmonary embolism is a severe complication and high risk of suddenly death. The patients in Surgical Intensive Care Unit have high risk of deep venous thrombosis, and then high risk of pulmonary embolism. The objective of this study was investigated the characteristics of pulmonary embolism at Surgical Intensive Care Unit.

Methods: This is an observational study. We have reported 25 patients, who have been diagnosed of pulmonary embolism at Surgical Intensive Care Unit from December 2014 to July 2016. The primary outcome was main clinical signs of pulmonary embolism. The secondary outcomes were the association of timing occur pulmonary embolism with prevent deep venous thombolism, the change of clotting factors, and image characteristics of pulmonary embolism.

Results: the main clinical signs of pulmonary embolism were unexplained tachypnea (100%). Some other signs were fever (68%), tachyrymth (64%), SpO2 < 90% (56%), and blood pressure < 90 mmHg (32%). The timing occur pulmonary embolism in deep venous prophylaxis patients were more delayed than one in the patients without prophylaxis (17th day versus 9th day, p = 0.001). The hypercoagulate factors include: hyper fibrinogenemia was 68%, increased VIII-factor (44%), and increase IX-factor (32%); decreased antithrombin III (32%), decreased protein C (28%) and protein S (12%). The pulmonary embolism not completely was (48%), and completely was (52%). The pulmonary embolism in one branch are (40%), and many branches are (60%)

Conclusions: the tachypnea was the main sign to diagnosis pulmonary embolism, after exclusion of possible causes. The pulmonary embolism not completely and many branches is essential.

Keywords: pulmonary embolism, deep venous thromboembolism, D-dimer, hypercogulation.