Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 20(6):153. DOI
Lượt xem: 141 Lượt tải PDF: 0
Dương Thanh Tùng*, Phạm Duy Tân*, Trần Hoài Dạ Vĩnh*, Nguyễn Mạnh Hùng*, Nguyễn Quốc Giang*
Đặt vấn đề: Mô tả và phân tích tất cả trường hợp được mổ cột
sống cổ tại khoa ngoại thần kinh Bv NDGĐ từ tháng 09/2009 đến tháng 08/2016,
đánh giá hiệu quả điều trị phẫu thuật cột sống cổ do nhiều bệnh lý và nhiều
nguyên nhân khác nhau, những kỹ thuật mổ đã làm được.
Đối tượng và phương pháp
nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô
tả và phân tích tất cả trường hợp được mổ cột sống cổ. Tất cả bệnh nhân đều được
chụp X quang quy ước và chụp cắt lớp vi tính (CTscan) để phân tích tổn thương
xương và đánh giá sự mất vững, chụp cộng hưởng từ (MRI) để xác định tổn thương
đĩa đệm, mức độ và vị trí chèn ép, có tổn thương tủy hay không. Chỉ định mổ:
thoát vị đĩa đệm có chèn ép rễ hay tổn thương tủy, vôi hóa dây chằng dọc sau
gây hẹp ống sống hay tổn thương tủy, chấn thương gãy cột sống mất vững.
Kết quả: Trong thời gian 7 năm từ 9/2009 - 8/2016, khoa ngoại
thần kinh đã mổ tổng cộng 1770 trường hợp bệnh lý, trong đó mổ về bệnh cột sống
cổ là 115 trường hợp. Bệnh thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ) cột sống cổ là 82 trường hợp,
chấn thương gãy mất vững cột sống cổ là 15 trường hợp, bệnh vôi hóa dây chằng dọc
sau chèn ép tủy cổ là 10 trường hợp, ung thư di căn cột sống cổ chèn ép tủy là
05 trường hợp, dị dạng Arnold Chiary là 03 trường hợp. Trong số đó có 02 trường
hợp phải mổ lại và 02 trường hợp bị biến chứng dò dịch não tủy do rách màng cứng
khi lấy nhân đệm, cả 04 trường hợp này đều được điều trị ổn và xuất viện.
Bàn luận: Phẫu thuật cột sống cổ là một kỹ thuật khó đòi hỏi
phẫu thuật viên phải có kiến thức và kỹ năng tốt mới có thể thực hiện được và
ít để lại biến chứng. Tại khoa Ngoại thần kinh Bv NDGĐ bước đầu triển khai phẫu
thuật bệnh cột sống cổ đã cho kết quả tốt và tai biến sau mổ là không nhiều.
Từ khóa: Điều trị phẫu thuật bệnh cột sống cổ, Thoát vị
đĩa đệm cột sống cổ, Chấn thương cột sống cổ.
Ojectives: Describe and analyze all cases of cervical spine
surgery in the Department of Neurosurgery Gia Dinh’s People Hospital from
9/2009 to 08/2016 months, evaluate the effectiveness of surgical treatment of
cervical spine caused by many diseases and different many reasons, these
surgical techniques have done.
Methods: Retrospective study describes and analyzes all
cases of cervical spine surgery. All patients received conventional radiography
and computed tomography (CT scan) to analyze bone injury and to assesse the
unstabiity. Magnetic resonance imaging (MRI) to determine disk injuries, degree
and level of neural compression with spinal cord injury or not. Indications
surgery: disc herniation with compression roots or spinal cord injury,
ossification of posterior longitudial ligament (OPLL) causing spinal stenosis
or spinal cord injury, traumatic spinal fracture instability.
Results: During the 7 years from 9/2009 - 8/2016,
Neurosurgery Depatment has operated total 1770 cases, including surgery of the
cervical spine disease was 115 cases. Herniated disc disease cervical spine was
82 cases, fracture cervical spine instability was 15 cases, ossification of
posterior longitudial ligament caused cord compression was 10 cases, cervical
spine metastatic cord compression was 05 cases, Arnold Chiary deformity was 03
cases. Of which 02 cases of surgery again and 02 cases of complications due CSF
probe dural tear when removed nucleus pulposus, all 04 cases were fine and
discharge hospital.
Conclusion: Cervical spine surgery is a difficult technique
requires the surgeon must have good knowledge and skills can be done and leave
little complications. At neurological surgical Gia Dinh’s People Hospital
initially deployed cervical spine surgery have good results and postoperative
complications are not many.
Key words: Treatment of cervical spine surgery, herniated
disc in the cervical spine, cervical spine injury.