Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 20(4):63. DOI
Lượt xem: 148 Lượt tải PDF: 2
Trương Hoàng Minh*, Trần Thanh Phong*, Trần Hải Phong*, Bùi Duy Luật*, Đỗ Anh Đức*, Trần Lê Duy Anh*, Lê Đình Hiếu*, Trương Sỹ Vinh*, Nguyễn Văn Trí Dũng*, Nguyễn Phước Hải*, Trần Phúc Hòa*, Hồ Thị Minh Châu*, Nguyễn Thị Nghĩa*, Nguyễn Ngọc Anh*, Phan
Mục tiêu: Trình bày đặc điểm lâm sàng, cận sàng sỏi niệu
trên bệnh nhân ghép thận được theo dõi tại bệnh viện Nhân Dân 115.
Bệnh nhân và phương pháp: hồi cứu mô tả các trường hợp lâm sàng
Kết quả và bàn luận: có 2 trường hợp (TH) sỏi niệu (tỉ lệ 1,69%), cả
2 là nam, tuổi trung bình:39,5 tuổi, nguyên nhân gây sỏi do hẹp chỗ nối niệu quản
(NQ) vào bàng quang (BQ). Cả 2 TH được tán sỏi nội soi ngược dòng thành công và
cắm lại NQ vào BQ theo Leadbeter – Politano thành công.
Kết luận: Tỉ lệ sỏi niệu sau ghép thận thấp, nguyên nhân
do hẹp và dị vật đường tiết niệu. Nội soi niệu quản ngược dòng ống cứng và mềm
với laser tán sỏi là phương tiện an toàn và hiệu quả.
Từ khóa: Sỏi niệu, ghép thận.
Objectives: To report clinical and paraclinical
characteristics of urolithiasis in renal transplantation at 115 people’s hospital.
Patients and Methods: We conducted a retrospective these patients of
renal transplantation at 115 people’s hospital.
Results: 2 cases of the ureteral calculi (1,69%), 2
males, the mean age: 39,5y, These causes of calculi are stenose in the
anastomosis urovesical and foreign body in the tract urinary. To succeed with
the treatment with transurethral lithotripsy in 2 cases and the reimplantation
urovesical with Leadbeter –Politano technique.
Conclusions: the incidence of calculi in the transplanted
kidney is low, these causes are stenose and foreign body in the tract urinaire.
The treatment with transurethral lithotripsy are safe and effective.