Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 20(4):45. DOI
Lượt xem: 193 Lượt tải PDF: 3
Hoàng Khắc Chuẩn*, Trần Thái Thanh Tâm**, Dư Thị Ngọc Thu*, Nguyễn Trọng Hiền*, Thái Minh Sâm*, Lê Hoàng Oanh***, Trần Ngọc Sinh****
Mở đầu: Đa hồng cầu là biến chứng thường gặp trên bệnh
nhân sau ghép thận, có thể có liên quan đến tình trạng tăng huyết áp và thuyên tắc, được xác định khi hematocrit ≥ 51% hoặc Hemoglobin
≥ 160g/L hoặc cả hai.
Mục tiêu: xác định tỉ lệ mắc đa hồng cầu và hiệu quả của thuốc ức chế men chuyển
(ACEI) và ức chế thụ thể AT1 trên bệnh nhân sau ghép thận tại bệnh viện Chợ Rẫy.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên
cứu cắt ngang, mô tả, được tiến hành trên 550 bệnh nhân từ 01/01/2004 đến 31/01/2015 tại phòng khám Ghép thận, bệnh viện
Chợ Rẫy.
Kết quả: tỉ lệ mắc đa hồng cầu trên bệnh nhân sau ghép thận tại bệnh viện Chợ Rẫy
9,63% (53/550) (5 nữ (9%), 48 nam (91%)) với thời gian khởi phát trung bình sau
ghép: 16,3 tháng (2,8 đến 67,4 tháng). Bệnh nhân được điều trị với ACEI và ức
chế thụ thể AT1 có các giá trị trung bình của hồng cầu (HC), hemoglobin (Hb) và
hematocrit (Hct) trước can thiệp lần lượt là: 6,08.106/mm3,
172,8g/L, 54,5%; sau can thiệp, các giá trị trên lần lượt là: 5,4.106/mm3,
149,8g/L, 47,4% với thời gian điều trị 9,35 tuần (có hiệu quả sớm nhất sau 1,3
tuần (9 ngày) và chậm nhất 23,6 tuần).
Kết luận: Đa hồng cầu sau ghép thận là một hiện tượng lành
tính, xuất hiện ở nam nhiều hơn nữ, thường xảy ra sớm trong vòng 1 – 2 năm đầu
sau ghép, có thể điều trị hiệu quả với thuốc ACEI và ức chế AT1.
Từ khóa: đa hồng cầu, ghép thận, thuốc ức chế men chuyển, thuốc ức chế thụ thể.
Introduction: Erythrocytosis, a common
complication after kidney transplantation associated with
hypertention and thrombosis, is considered when hematocrit level equal to or greater than 51%, or a hemoglobin level
equal to or greater than 16 g/L, or both, without other causes.
Objective: to sudy the prevalence of erythrocytosis after kidney transplantationat Cho Ray hospital as well as the efficacy of
treatment with angiotensin converting enzyme inhibitors (ACEI) and angiotensin
(AT) receptor antagonists.
Methods: a cross-sectional descriptive study on 550 patients after
kidney transplantation evaluated from January 2004 to January 2015 at Cho Ray
hospital.
Results: The prevalence of posttransplant erythrocytosis at Cho
Ray hospital was 9.63% (5 female (9%), 48 male
(91%)), appeared at an average of 16.3 months (range,
2.8-67.4 months) after transplant. Before treatment, mean red
blood cell count (RBC), hemoglobin (Hb) and hematocrit (Hct) were: 6.08.106/mm3,
172.8g/L, 54.5%, respectively. These patients underwent ACEI and AT receptor
antagonists therapy in the average
time of 9.35 weeks to decrease these erythrocyte indices to normal values
(Hct<51%, Hb<160g/L). At the time of last follow up, the mean RBC, Hb and
Hct were 5.4.106/mm3, 149.8g/L, 47.4%, respectively.
Conclusion: Erythrocytosis, a benign phenomenon occurring mostly in male
patients, is usually encountered within 1-2 years of post renal transplant
period and can be treated effectively and safely with ACEI and AT receptor
antagonists.
Keywords: Erythrocytosis,
renal transplant, angiotensin converting enzyme inhibitors and angiotensin receptor
antagonists.