Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 20(4):36. DOI
Lượt xem: 196 Lượt tải PDF: 1
Dư Thị Ngọc Thu*, Thái Minh Sâm*, Hòang Khắc Chuẩn*, Nguyễn Thị Thái Hà*, Nguyễn Trọng Hiền*, Trần Xuân Trường**, Phạm Thị Ngọc Thảo***, Phạm Hồng Trường****, Lê Thành Lý*****, Lê Ngọc Hùng******, Trần Thị Thanh Nga*******, Trần Minh Trường***,Trần Ng
Đặt vấn đề: Cytomegalovirus (CMV) là một loại virus thuộc nhóm Herpesvirus. Trên 90%
dân số tại các nước kém hoặc đang phát triển nhiễm CMV và dễ bùng phát thành bệnh
ở người bị suy giảm miễn dịch với tỉ lệ tử vong cao. Diễn tiến bệnh sẽ càng phức
tạp hơn đối với bệnh nhân sau ghép thận, do đó cần phải có kế hoạch phòng ngừa
và điều trị CMV sau ghép cho đối tượng này.
Tư liệu và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu trên tất cả những bệnh nhân
(BN) đến khám và điều trị sau ghép tại phòng khám ghép thận Bệnh viện Chợ Rẫy
(BVCR) từ 1992-2013. Từ 1992-2008 chưa có kế hoạch phòng ngừa bệnh CMV sau ghép
do chưa có trang bị đủ các xét nghiệm chẩn đoán CMV và thuốc điều trị. Từ
2009-2013 có kế hoạch điều trị dự phòng và điều trị bệnh CMV theo điều kiện tại
Việt Nam với các thuốc Aciclovir, Ganciclovir (IV), Valganciclovir tùy thuộc
vào tình trạng của từng cá thể khác nhau. Kế hoạch kiểm tra định kỳ tình trạng
CMV tối thiểu mỗi năm một lần. Thời gian điều trị dự phòng hay điều trị bệnh
3-6 tháng tùy trường hợp. Thuốc ức chế miễn dịch (UCMD) được sử dụng là
Basiliximab (thuốc dẫn nhập), Steroid, Sandimmun Neoral, Tacrolimus,
Mycophenolate Mophetil, Azathioprine (phối hợp tùy trường hợp trong điều trị
duy trì). Tất cả bệnh nhân đều có cùng kế hoạch theo dõi và điều trị như nhau.
Kết quả: 710 trường hợp (TH) bệnh đến theo dõi sau ghép tại BVCR từ 1992-2013,
trong đó gồm: 389/710TH (54,8%) ghép từ các trung tâm khác trong và ngoài nước,
321/710 TH (45,2%) ghép tại BVCR. 462/710 TH (65,1%) nam, 248/710 TH
(34,9%) nữ. 216/710 TH (30,4%) có diễn tiến liên quan đến bệnh CMV sau ghép:
126/216 TH (58,3%) huyết thanh chẩn đoán CMV (+), không có triệu chứng
lâm sàng, điều trị đón đầu (24/126TH phối hợp Ganciclovir (IV) +
Valganciclovir; 44/126TH chỉ sử dụng ganciclovir (IV); 58/126TH chỉ sử dụng
Valganciclovir uống). Trong đó 13/216 TH bùng phát thành bệnh và có 2 TH tử
vong (bảng 1). 90/216 TH (37,5%) có triệu chứng lâm sàng, điều trị bệnh với
Ganciclovir (IV). Tử vong 22/90 TH (bảng 1).
Kết luận: CMV dễ bùng phát bệnh trên những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch nặng, bệnh
nhân sau ghép thận sử dụng thuốc UCMD. Do đó cần phải có kế hoạch phòng ngừa và
điều trị bệnh CMV, cần phải chú ý chỉnh liều thuốc UCMD đủ để không có hiện tượng
thải ghép xảy ra.
Từ khóa: Cytomegalovirus after renal transplantation,
Cytomegalovirus sau ghép thận, nhiễm trùng sau ghép thận.
Background: Cytomegalovirus (CMV) is a herpes virus group. Over 90% of the population
in poor or developing countries gets CMV and that outbreak easily in the
immunocompromised persons with high mortality. Progression of the CMV disease
is more complex with the patients after renal transplantation. It’s necessary
to plan for prevention and treatment of CMV after renal transplantation
patients.
Material and method: Prospective study of all patients (pts) comes with us
after kidney transplantation from 1992 to 2013. From 1992 to 2008, (no plans
for prevention of CMV disease) have not enough conjuncture to diagnosis and
treatment of CMV. From 2009 to 2013 there are planning prophylaxis and
treatment of CMV disease with the conditions in Vietnam, such as: Acyclovir,
ganciclovir (IV), Valganciclovir depending on the individual situation of each
patient. Plan to check the CMV minimum once per year. Time for prophylaxis or
treatment are 3 to 6 months depending on the rights of an. Immunosuppressive
drugs is used Basiliximab (drug introductions), steroids, Sandimmun Neoral,
Tacrolimus, Mycophenolate Mophetil, Azathioprine. All patients have the same
plan to monitor and treat CMV disease.
Results: 710pts after transplantation from 1992 to 2013 includes: 389/710pts
(54.8%) got renal transplantion from other centers in and outside the country,
321/710pts (45.2%) transplanted at CRH. 462/710pts (65.1%) are males,
248/710pts (34.9%) are females. 216/710pts (30,4%) were related to progression of CMV disease after transplantation: 126/216pts (58.3%) positive CMV serologies, no clinical symptoms, were preemptive treatment (24/126pts: Ganciclovir (IV) + Valganciclovir; 44/126pts: Ganciclovir (IV); 58/126pts: Valganciclovir). 13/216pts outbreak of CMV disease and died 2pts. 90/216pts (37.5%) have clinical symptoms and
treated with ganciclovir (IV), died
22/90pts.
Discussion and conclusion: CMV disease outbreaks easily on patients with
severe immunosuppression, such as HIV or after renal transplant. For this
reason, need to plan for prevention and treatment of CMV disease, should be
attention to adjust the dose of immunosuppressive drugs.
Keywords: Cytomegalovirus after renal transplantation,
Infections after renal transplantation.