Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 17(2):55. DOI
Lượt xem: 122 Lượt tải PDF: 0
Đào Quang Oánh
Mục đích: Khảo sát vai trò giới tính trong ung thư bàng quang, đánh giá các yếu tố dẫn đến sự khác biệt trong chẩn đoán và điều trị ung thư bàng quang đối với nữ giới.
Bệnh nhân – Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu, thống kê mô tả. Ghi nhận những trường hợp ung thư bàng quang ở bệnh nhân nữ đến khám tại khoa Niệu BV Bình Dân trong 4 năm : 2009 – 2012. Chúýđến các yếu tố như: thời gian đến khám sau khi có triệu chứng tiểu máu lần đầu, giai đoạn giải phẫu bệnh, nghề nghiệp, số lần sanh, tiền sử dùng thuốc ngừa thai…So sánh với số liệu trên bệnh nhân nam trong cùng thời gian.
Kết quả: 67 bệnh nhân nữ, tuổi trung bình = 54,3 ± 4,2 tuổi. 191 bệnh nhân nam, tuổi trung bình = 52,6 ± 5,5 tuổi . Tỷ lệ nam/nữ = 2,85. Đa sốở lứa tuổi 40 – 60 tuổi (62,7% nữ và 59,7% nam). Không có bệnh nhân nữ hút thuốc. Tất cả bệnh nhân nam đều hút thuốc. Phụ nữ thường đến khám trễ. Hơn 1/3 số bệnh nhân nam đến khám trong 1 tháng đầu khi bị tiểu máu, trong khi ngược lại hơn 1/3 số bệnh nhân nữ đến khám trể từ 6 tháng trở đi. Đối với bướu còn trong giai đoạn khu trú (T1-2) thì tỷ lệ bệnh nhân nữ thấp hơn (61,19% nữ so với 91,1% nam). Ngược lại, ở giai đoạn bướu tiến triển (T3-4), thì tỷ lệ bệnh nhân nữ lại cao hơn (38,8% nữ so với 8,9% nam). Các BS khám bệnh ban đầu ít nghĩđến ung thư bàng quang và thường hướng sự chú ý sang bệnh lý viêm nhiễm đường niệu dưới. Xét nghiệm soi bàng quang thường được chỉ định trễ hơn so với nam giới. Khi phát hiện ung thư thì tỷ lệ bướu giai đoạn tiến triển cũng cao hơn nam giới.
Kết luận: Phải chú ý đến triệu chứng tiểu máu và bệnh lý ung thư bàng quang trên nữ giới. Bệnh lý trên nữ giới có những đặc điểm riêng cần để ý để phát hiện sớm và cải thiện dự hậu.
Từ khóa: ung thư bàng quang, phụ nữ, giới tính, dự hậu.